PDA

View Full Version : Tại Sao Người Việt Nói Tiếng Anh Không Hay?



Tuan Boston
Jan 23, 2007, 11:16 PM
I got this from one of the website. Please feel free to leave any comment.

Tiếng Việt cơ bản là âm đơn, đặc biệt giọng Bắc khá thuần, không có các giọng nặng và âm tiết đặc trưng (accent), nên học các ngoại ngữ khác không bị ảnh hưởng nhiều về accent. Tuy nhiên, tiếng Việt nói không có trọng âm và ngữ điệu (vì đã có đủ 5 thanh rồi, ngữ điệu làm gì nữa), nên học các tiếng của châu Âu thường cũng nói ngang ngang và đều đều như tiếng Việt, nhưng cũng nhờ thế mà dễ nghe (nếu nói chậm và rõ từng chữ).

Làm gì, người ta cũng dễ mắc một số điểm vướng mắc dẫn đến sai lầm (pitfalls), khiến việc thực hiện khó thành công theo ý muốn. Nói tiếng Anh cũng không là ngoại lệ. Trước hết, có những điểm dễ mắc cần tránh khi học nói tiếng Anh như sau:

1. “Ếch ngồi đáy giếng”

Người ta thường khá thiển cận nếu chưa đi sâu vào một vấn đề nhất định, đặc biệt khi mới bắt đầu học hay tập luyện một cái gì đó. Sự thiển cẩn “ếch ngồi đáy giếng” này dẫn đến các hệ quả là:

a. Đặt mục tiêu không cao:

Trước khi làm gì ta cũng phải đặt ra mục tiêu rõ ràng để giúp cho việc thực hiện có định hướng (người phương Tây gọi đó là phương pháp Backcasting). Nhưng thông thường khi người ta kém (do mới bắt đầu học) nên hay bị mắc bệnh “ếch ngồi đáy giếng”, không biết thế nào mới là đạt yêu cầu, chưa nói thế nào mới là giỏi thì gần như không có khái niệm. Khi người ta mới học tiếng Anh, nếu thấy một người nói chuyện được với người nước ngoài đã thấy là kinh lắm, và chỉ mong được như thế là thoả mãn lắm rồi. Rồi khi bắt đầu tậm toẹ có chút căn bản, thì lại thần tượng những người “phun tiếng Anh như gió” (bất luận họ nói đúng hay sai).

Thông thường, người Việt mình cũng chỉ đặt mục tiêu đến thế là hết, nên khi đã nói tiếng Anh được lưu loát, “như gió”, thì thường tự thoả mãn mình mà không cố gắng trau dồi, nâng cấp nó lên nữa. Đặc biệt những người học chuyên về tiếng Anh ở các trường Ngoại Ngữ, hay hơn nữa là người được đi nước ngoài thì càng coi thường, vì nghĩ rằng mình có điều kiện và môi trường như thế, thể nào mà chả giỏi tiếng Anh nói chung và nói tiếng Anh nói riêng. Với một suy nghĩ “ấu trĩ” dường vậy, nên tỉ lệ những người giỏi tiếng Anh cũng như nói tiếng Anh hay ở người Việt là rất khiêm tốn, không ngoại lệ những người có điều kiện đi học bằng tiếng Anh, kể cả Việt Kiều.

Vì vậy, để có thể đạt một kết quả cao trong học tiếng Anh lẫn nói tiếng Anh, ta cần phải đặt mục tiêu rất cao. Riêng về chuyện nói, thì ta phải lấy mức trần là các chính khách Mỹ hay Anh (những người có tài hùng biện) để mà phấn đấu. Điều này không hẳn có nghĩa là ta sẽ phải nói hay được như họ, tất nhiên về lý thuyết, chừng nào chưa nói được như họ, nghĩa là ta vẫn có thể phải cố gắng luyện tập tiếp. Tuy nhiên, vì thường con người hiếm ai có thể đạt 100% mục tiêu cả, thường là một số % nhất định nào đó, nếu ta đặt mục tiêu thấp tè, thì dù đạt 99% cũng chả thể bằng đặt mục tiêu cao chót vót nhưng đạt độ 50% thôi.

Trong trường hợp này cũng thế, nếu ta đặt mục tiêu chỉ là nói lưu loát, thì có khi ta chỉ đạt gần được mức ấy, nghĩa là chưa có gì là ghê gớm cả, nghe vẫn có thể “khô” như thường. Nhưng nếu đặt mục tiêu là Bill Clinton, thì chí ít không nói hay bằng ông ta (mà nói hay bằng thế quái nào được con người tài năng hùng biện thế) thì cũng phải nói hay chả kém gì, hay thậm chí hay hơn cả người bản ngữ bình thường. Phải làm cho người bản ngữ phải ngạc nhiên khi ta vừa cất lên một câu nói, thế mới tạm coi là nói tiếng Anh khá. Giống người Việt ta thôi, khi nghe người nước ngoài nói một thứ tiếng Việt chuẩn xác, ta cũng chả trầm trồ bỏ bố đi chứ, nhỉ?

b. Tinh tướng

Người ta khi đạt được một cái gì trong mắt nguời khác thì thường bị tật tự mãn, tự kiêu mà dân gian gọi là tinh tướng. Chính vì thế, họ càng thích thể hiện, mà càng thích thể hiện thì tâm hồn càng bất an, càng dễ mắc tật loi choi mà không nói cho chuẩn theo ý mình được. Hơn nữa, vì tinh tướng, nên họ không biết mình, cứ nghĩ là mình giỏi lắm, vì thế càng không thể phát hiện cái sai, cái kém của mình để mà phấn đấu tiếp.

Tôi quen một số người, đều có khả năng nói tiếng Anh lưu loát trước đông người, nhưng vì họ nghĩ rằng mình thế là quá kinh (so với người ở Việt Nam) rồi, nên chả nhìn lên, chỉ nhìn xuống, mãi mà vẫn chỉ ở một mức đủ cho dân Việt lác mắt, nhưng dân Tây thì e rằng... Có lẽ mỗi người phải có lúc „ngộ” ra, hiểu được thế nào mới là mức giỏi thực sự, và từ đó thấy rõ ràng cái yếu kém của mình, nhận ra rằng con đường đi đến chỗ tối ưu còn gian nan lắm, thì mới có thể tiếp tục vươn lên được.

2. Hấp tấp

Người Việt (mà cả người nước khác nữa) khi học nói thường có xu hướng thích nói nhanh, chắc do ảnh hưởng bởi những quan điểm như "thằng/con đấy nói tiếng Anh như gió" và suy ra nó giỏi tiếng Anh. Bên cạnh đó, nói nhanh bao giờ cũng dễ hơn, vì nói vo được, lấp liếm đi các chỗ sai. Nguyên tắc của một môn gì đó, chẳng hạn trong thể thao, đi nhanh đã khó, nhưng đi chậm mà chuẩn còn khó hơn.

Ví dụ bạn nào đã chơi trượt tuyết, trượt băng sẽ thấy để đi chậm và đúng kĩ thuật không phải chuyện đơn giản. Những người tập thể thao không bài bản, thường cố chơi với tốc độ nhanh khi bắt đầu vào guồng, vì làm nhanh sẽ dễ dẫn đến trạng thái “xung cơ” (phấn khích) mà vào tay nhanh, rồi dần dần khi hoàn thiện trình độ mới điềm đạm dần; còn theo hệ thống tập huấn chuyên nghiệp, người tập bao giờ cũng bắt đầu một cách chậm rãi nhưng đúng kỹ thuật.

Trong tiếng Anh cũng vậy. Nếu bạn nào đang có thói quen tự nhiên nói "như gió", hay thử nói thật chậm rãi thử xem, sẽ thấy rất khó, và phát hiện ra mình có nhiều cái sai thú vị phết đấy. Hãy đi từ từ và chắc chắn, thà chậm mà đúng còn hơn nhanh mà sai.

3. Dục tốc bất đạt

Thiếu kiên trì hay “dục tốc bất đạt” là cố tật của con người. Trên đã bàn về hấp tấp trong khi nói, nay lại là chuyện muôn thuở, hấp tấp vội vàng đốt cháy giai đoạn trong quá trình luyện tiếng. Bản thân tôi chập chững tự học tiếng Anh từ cuối cấp 1 bằng một cuốn sách tự học tiếng Anh, liên tục tự học không qua một trường lớp chính thức nào (trừ môn tiếng Anh dở hơi biết bơi được ném vào Phổ thông và Đại học) cho đến khi học xong đại học, đã từng present 3h liên tục trước hàng chục giáo sư với sinh viên Canada trong một dự án hợp tác và được họ đánh giá không đến nỗi. Vậy mà cho mãi đến 3 năm trước đây mới phát hiện ra mình nói không chuẩn rất nhiều chỗ, chứ chưa kể đến chuyện nói hay. Sau đó, tôi phải mất hơn nửa năm trời để luyện nói, mỗi ngày bỏ ra ít thì 5 phút, nhiều thì nửa giờ để đọc ít thì 3 câu, nhiều thì một vài trang tiếng Anh, để có thể điều chỉnh toàn bộ giọng nói lẫn “Từ vựng nói” của mình.

Sau đó, tôi vẫn luôn có ý thức trau dồi khả năng nói của mình mọi lúc mọi nơi tuy không mang tính cấp tốc (intensive training) như vậy nữa, để được một giọng nói cũng không đến nỗi quá tự ti khi ra gặp bạn bè quốc tế. Tuy vậy, vẫn còn nhiều điều phải phấn đấu nữa lắm.

***

Trên đây là 3 điểm cơ bản thuộc về nhận thức và thái độ, làm cản trở việc luyện nói tiếng Anh cho chuẩn và hay. Ngoài ra còn có nhiều đặc điểm nhỏ khác, các bạn có thể tự phát hiện thêm. Tôi xin tạm dừng vấn đề này ở đây.

Những nguyên nhân này tôi nêu ra để làm điểm khởi động cho ý đồ chính của tôi là chia sẻ với các bạn kinh nghiệm tự luyện giọng nói tiếng Anh của mình, hay đúng ra là thay máu vốn từ nói và luyện giọng nói chưa chuẩn của mình.


CHIẾN THUẬT TỪNG BƯỚC LUYỆN GIỌNG NÓI

1.Luyện từ

Cái lớn bắt đầu từ cái nhỏ. Muốn nói cả câu chuẩn thì phải nói từng từ chuẩn. Sẽ có người cười khẩy, từ thì làm sao mà sai được. Vừa rồi, có người bạn của tôi đi học một lớp luyện nói, ông thầy có cho cả lớp đọc một câu rất đơn giản, ví dụ "ecological thinking and ecology protection should go together". Bạn tôi chắc mẩm làm sao mình có thể đọc sai một câu nói đơn giản đến nhường vậy. Nhưng nhầm to, vẫn sai như thường, các bạn tự phát hiện cái sai dễ mắc ở đây là gì nhé.

Khi luyện từ cần chú ý các điểm sau:

a. Phát âm: (hay âm đọc, không tính trọng âm) tiếng Anh là thứ tiếng không có quy tắc, nhưng cái không có quy tắc của nó cũng lại có quy tắc, mà cái sự quy tắc ấy cũng lại chẳng có quy tắc gì. Để phát âm đúng từng từ, ta vừa phải học thuộc, vừa phải liên tục tư duy để phát hiện và ghi nhớ các quy tắc ẩn dấu của nó. Một vốn từ vựng được coi là tối thiểu đủ dùng là 5000, thì công việc của các bạn không phải là nhỏ đâu, tôi nghĩ rằng bạn sẽ phải nhớ tối thiểu cả ngàn trường hợp khác nhau. Từ những cái bất quy tắc thông thường như doubt (dawt), debt (det) cho đến những thứ quái như bury ('be:ri) thì ta không có cách nào khác là học vẹt.

b. Trọng âm: cái này mới gọi là khoai. Sai về phát âm thì còn châm trước được, vì tiếng Anh địa phương thường không đáp ứng được nhu cầu này, chẳng hạn tiếng Anh-Latin, họ đọc chả khác gì tiếng Tây Ban Nha. Nhưng trọng âm thì phải tuyệt đối chú ý. Bạn có thể phát âm sai, thậm chí sai toét, nhưng nếu đúng trọng âm thì người nghe vẫn nắm bắt ngon. Chắc là mọi người đều biết, tiếng Anh cũng như một số ngôn ngữ phương Tây, người ta nghe trọng âm là chính. Nếu nói đúng trọng âm, thì dù có nói nhỏ, hay bị nhiễu (như nghe qua đường điện thoại rè, hay trong lúc ồn ào…) người nghe vẫn có thể đoán ra được ý mình định nói.

Một lần nữa, luyện trọng âm từ phải luyện word by word, nghĩa là từng từ một, và với 5000 từ vựng thì công việc của các bạn không phải là nhỏ. Tuy nhiên quy tắc trọng âm thì có đỡ hầm bà làng hơn.

Phải mất 3 tháng chú ý rèn luyện hàng ngày, thì bạn mới có thể thay máu, hay ít ra hiệu đính được cách phát âm cho cái vốn từ vựng chắc chắn không phải là nhỏ của các bạn.

Một số lỗi trọng âm và phát âm thường gặp:

Nào hãy bắt tay vào để kiểm tra vốn từ nói (speaking vocabulary) của mình xem. Hãy khư khư bên mình cuốn từ điển, và check cách đọc của mình với một vài từ phổ thông, rồi nhìn vào phần phiên âm, xem các bạn phát âm và nhấn trọng âm đúng đến cỡ nào. Các bạn đã phát hiện ra chỗ dễ sai của cái câu ví dụ trên kia chưa? Có rất nhiều điểm có thể sai khi phát âm và nhấn trọng âm, nhưng có những lỗi cơ bản thường mắc như sau:

a. Đọc như nhau khi biến trạng thái từ

Mọi người khi học nói một cách tự phát thường đọc tính từ, danh từ, động từ (hay biến “thì”) với cùng một kiểu cho nó dễ (chưa nói những người có cơ bản yếu còn không phân biệt được đâu là tính, danh, động). Nhưng chúng thường biến khác so với nhau trong cách viết, và từ đó, phát âm lẫn trọng âm cũng khác nhau. Hãy dùng từ điển để tra các cặp từ sau kể về trọng âm lẫn phát âm: export(n)-export (v); technology-technological; economy-economic; photograph-photography, conservation-conservative.... Nào các bạn đã thấy mình không ổn chưa. Những bạn nào mà không sai những từ này là cũng đã là rất tốt rồi, có cơ bản về phát âm.

Bạn nào mà sai nhiều, thì phải rất chú trọng, bạn đã cảm thấy con đường để nói chuẩn (chưa nói là hay) cũng không hề dễ dàng, đấy là một nguyên nhân cơ bản tại sao người Việt nói sai nhiều.

Có rất nhiều nguyên tắc để nhớ trọng âm cũng như phát âm, tôi không muốn nói ngay ra đây, vì cũng mất thời gian, nhưng quan trọng là tôi muốn các bạn tự tìm hiểu trong quá trình thay máu vốn từ của mình.

b. Thiếu trọng âm phụ

Trong một từ dài 3-4 âm tiết trở lên, thường có trên 1 trọng âm. Ngoài trọng âm chính (biểu diễn bởi dấu phảy phía trên đầu, trước trọng âm) còn có trọng âm phụ (biểu diễn bởi dấu phảy phía dưới chân, trước trọng âm). Ví dụ environmental (in,vairơn'mentl). Các bạn cần phải đọc rõ cả trọng âm phụ này, còn các âm còn lại có thể nuốt đi. Quy tắc thông thường đối với trọng âm phụ là luôn đứng cách trọng âm chính một âm (trước hoặc sau).

c. Trọng âm nhấn chưa đủ đô

Các bạn đã ít sai trọng âm từ vẫn thường mắc lỗi này. Để nói được hay, thì trọng âm chính cần phải có âm lượng gấp 2-2.5 lần âm thường, và có độ dài cũng tương tự, còn đối với trọng âm phụ thì cũng phải 1.5-2 lần. Nhiều khi các âm không phải trọng âm có thể nuốt (đọc rất nhỏ trong cổ họng), nhưng phải nhấn các trọng âm rất rõ, rất to và dài (chưa nói là còn phải luyến nữa). Tóm lại là phải đủ đô!

Còn nhiều lỗi nữa, các bạn có ý kiến đóng góp thêm cho phong phú.

***

2. Luyện ngữ và câu (phrases and sentences)

Ngay từ khi bắt đầu thay máu vốn từ vựng, bạn có thể bắt đầu vào luyện nói các ngữ và câu ngay. Ngữ hay ngữ nói, ở đây có nghĩa là các cụm từ trong một câu mà khi nói cần phải nói liên tiếp. Ngữ nói có thể giống, có thể khác với Ngữ thông thường trong ngữ pháp. Vì vậy, Ngữ ở đây có thể gọi là nhịp. Trong một câu có thể phân ra nhiều ngữ. (Chú ý đây là khái niệm của riêng tôi đặt ra để tiện gọi, không có tính kinh viện, quy tắc trên thực tế). Ví dụ một câu nói thông thường như như sau:

Being informed that the examination result is ready, I want to go to school right now.(3)

Nếu các bạn phải đọc chậm rãi, thì thông thường các bạn chỉ giảm tốc độ đọc đi (như kiểu quay chậm), đối với từng từ, từng từ một kiểu:

Being… informed… that… the… examination… result… is… ready…, I …want… to… go… to… school… right… now.

Nhưng trên thực tế, người ta chỉ giảm tốc độ đọc các từ đơn đi đôi chút, còn lại để đọc chậm rãi, ta nên phân câu ra thành các ngữ có nhịp ngắn 2-4 từ như sau:

Being informed/ that the examination result/ is ready, I want /to go to school/ right now.

Sau khi đã phân đoạn như vậy, việc đọc chậm sẽ chủ yếu được thực hiện nhờ việc ngắt nghỉ giữa các Ngữ. Vì vậy, muốn đọc chậm rãi bao nhiêu, ta chỉ việc nghỉ dài tương đương bấy nhiêu giữa các ngữ, chứ không hề phải đọc ê a kéo dài từng chữ như thông thường trong tiếng Việt. Câu trên sẽ được nói chậm rãi theo phong cách sau:

Being informed……… that the examination result……… is ready,……… I want ........to go to school ........right now.

Tại sao phải nghỉ, nói chung là để ta có thời gian nghĩ sẽ nói tiếp cái gì (như các cụ thường dạy “uốn lưỡi bẩy lần trước khi nói”). Còn trong tập nói, thì đơn giản là để ta có thời gian chuẩn bị cho việc nói tiếp các ngữ tiếp theo. Việc ngắt nghỉ này giúp ta khoan thai, tránh hấp tấp, tránh việc bị nói dồn dập mà vấp váp, khô khan. Các bạn cứ thử xem, sẽ thấy ngay mình nói chậm khá dễ dàng, và có vẻ khá hay. Hì hì, thực ra nếu các bạn để ý nghe CNN, BBC, sẽ thấy các chính khách (Bill, Bush chẳng hạn) đều nói khá chậm rãi theo phong cách này. Các ông này thường ngắt nghỉ rất hợp lý trong câu nói, có khi nghỉ khá lâu mặc dù tốc độ trong một ngữ cũng không chậm hơn bình thường là mấy. Việc ngắt nghỉ này khiến câu nói trở nên có NGỮ, có nhịp.

Một điều chú ý nữa trong câu ví dụ trên, là ngoài ngắt nhịp, thì các trọng âm cũng cần được nhấn mạnh và DÀI hơn các âm khác. Trong số các trọng âm đó, lại có các trọng âm được nhấn bật lên so với các trọng âm khác. Ta gọi đó là các trọng âm câu. Trọng âm câu là trọng âm của các từ quan trọng đa âm tiết hay chính là từ quan trọng đơn âm tiết.

Câu trên thông thường sẽ phải nói như sau:

Being info...rmed……… that the e..xamina....tion resu..lt……… is re....ady,………… I wa....nt ........to g..o to scho....ol ........right no...w. (độ dài chấm biểu hiện độ dài tương đối)

Trong câu trên, các từ quan trọng là examin(a)tion, w(a)nt, sch(oo)l, n(ow), vì nó mang lại thông tin chính cho câu. Việc chọn trọng âm câu thực ra tuỳ theo mỗi người nói và tuỳ vào văn cảnh mà ta nên nhấn vào các âm tiết khác nhau. Việc nhấn trọng âm từ và trọng âm câu đủ đô, là một yếu tố quan trọng giúp ta nói không bị như súng bắn, khiến tốc độ trong một ngữ cũng đã giảm đáng kể. Đây là Điệu để mà tạo thành cái gọi là NGỮ ĐIỆU nói.

Nào, giờ là lúc thực hành, các bạn hãy kiếm ngay một trang tiếng Anh nào đó mà bạn cho là phù hợp và cầm sẵn cây bút chì. Trước hết đọc lướt qua rồi dùng bút chì ngắt nhịp câu, đồng thời gạch chân các trọng âm câu. Sau đó là luyện đọc, với các yêu cầu sau:

- Thong thả nói chung

- To và rõ ràng

- Nhấn trọng âm từ (1.5-2 lần dài và to hơn bình thường)

- Nhấn trọng âm câu (2-2.5 lần so với bình thường)

- Nghỉ giữa các ngữ (tuỳ vào mỗi người, thông thường là không dưới 1/3-1/2 giây)

- Dần dần nuốt các âm tiết không quan trọng như các quán từ (a, an, the); các giới từ (to, in, on, up… trừ khi ta muốn nhấn mạnh các quán từ này); và các âm không phải trọng âm trong từ đa âm tiết. Kỹ thuật nuốt âm là đọc nhỏ và lướt nhanh, gần như không để âm thoát ra khỏi cuống họng.



Luyện hát (nhất là những bài hát có lời nhanh thể loại Pop Rock) là một cách rất tốt để luyện nuốt âm, từ đó bổ trợ cho luyện trọng âm (vì khi các âm thường bị nuốt thì những âm còn lại sẽ phải là trọng âm). Tuy nhiên, cũng phải lưu ý, không những nhịp điệu hát khác với nhịp điệu nói, mà đôi khi các âm còn bị thay đổi so với bình thường để phù hợp với bài hát (ví dụ, các quán từ đáng nhẽ phải đọc lướt thì trong bài hát thỉnh thoảng vẫn được nhấn dài để đáp ứng các giai điệu). (4)



Chiến thuật luyện đọc là:

- Luyện từng từ: đọc từng từ một cho chuẩn rồi mới luyện đọc cả ngữ (dùng từ điển để tra phát âm và trọng âm)

-Luyện từng ngữ: đọc từng ngữ một cho chuẩn một (vài) lượt rồi mới đọc cả câu.

-Luyện từng câu: Đọc từng câu một cho chuẩn rồi mới đọc cả đoạn.

Vạn sự khởi đầu nan, các bạn cần rất kiên trì và cẩn thận trong giai đoạn bắt đầu này, nó có thể mất 1-2 tuần hay hơn để quen với việc ngắt nghỉ, nhấn trọng âm cho đúng (thời gian này tuỳ vào mỗi người cảm thấy là đủ chưa, dù chả có gì là đủ cả). Sau khi đã thành thói quen, thì việc học nói nhờ đọc diễn cảm này sẽ thông suốt hơn. Lúc ấy, bạn có thể bắt đầu việc học nói nhờ đọc trực tiếp các đoạn tiếng Anh dài mà không cần phải bắt đầu từng ngữ từng câu nữa.

Tuy nhiên, việc luyện từng từ thì vẫn phải tiếp tục, cho đến khi bạn nhớ trọng âm và phát âm của cả vốn từ vựng của bạn. Cần luôn lăm lăm quyển từ điển, đọc từ nào không chắc phát âm và trọng âm là phải tra ngay, và luôn có ý thức rút ra quy tắc và kinh nghiệm.

Hãy ghi nhớ, luyện tập một cách chuyên nghiệp và bài bản bao giờ cũng có vẻ nhàm chán trong giai đoạn đầu, chỉ luyện đi luyện lại từng kỹ năng nhỏ, một động tác nhỏ, ở đây là các từ, các ngữ, các câu. Nếu các bạn đã có thời gian chơi thể thao một cách bài bản như bóng bàn, cầu lông, bóng đá... hay xem người ta tập, sẽ hiểu rõ hơn sự đầy ải khi học nói này. Phải kiên trì và có ý thức. Chả còn cách nào khác.

Ngoài ra, bạn cần tham khảo cách nói của ng bản ngữ bằng cách nghe các cuộc diễn thuyết, phát biểu trên TV (tốt hơn là bản tin, vì bản tin là dạng official speaking, việc nhấn và ngắt nghỉ ở cấp độ bình thường), đặc biệt là các chính khách Mỹ, vì ng Anh thường nói như súng bắn (Tony Blair là một ví dụ, ông ta nói tương đối nhanh so với các chính khách Mỹ). Việc tham khảo này sẽ giúp bạn so sánh và điều chỉnh cách đọc của mình.

ĐỂ CÓ MỘT GIỌNG NÓI HAY

Nếu đọc chuẩn được phát âm, nhấn đúng và đủ trọng âm từ và trọng âm câu, đồng thời ngắt nghỉ hợp lý thì đã có thể nói là khá tốt rồi, gọi là nói có Ngữ điệu. Tuy nhiên, lúc này vẫn chưa thể gọi là nói hay (beautifully) được mà mới chỉ có thể gọi là nói lưu loát (fluently). Bạn nên nhớ rằng ngay cả người bản ngữ cũng không đồng nghĩa với việc nói hay. Ví dụ người Việt chúng ta, không phải ai cũng nói một thứ tiếng Việt hay và đẹp, dễ đi vào lòng người.

Bởi vậy, để nói hay, ai cũng phải luyện tập cả, không phân biệt người bản ngữ hay người nước ngoài (tất nhiên là người bản ngữ có thuận lợi rất lớn không thể phủ nhận). Một ví dụ điển hình là tổng thống Bush, nếu ai để ý thời sự có thể thấy ông ta càng ngày càng luyện được giọng nói hay hơn, nếu so với thời còn đang tranh cử thì quả là khác biệt rất nhiều. Tuy nhiên, để so với Bill thì còn phải phấn đấu nhiều, vì với Bill nói hay đã như là một bẩm sinh (nhưng cũng không có nghĩa là ông ta không phải tập nói). Ngoài ra, các bạn có thể thấy những người phát thanh viên trên TV đều phải qua các lớp tập nói nhằm thi vào đài truyền hình.

***

Ngoài các yếu tố cơ bản đã trình bày ở các phần trước, nói được hay còn cần một yếu tố quan trọng là Giai Điệu (melody). Giai điệu cũng có thể chia ra 2 loại:

1. Giai điệu của từ

Hay đúng ra là giai điệu của trọng âm (của từ đa âm tiết và âm của từ đơn âm tiết). Không chỉ đơn thuần nhấn dài và mạnh cho đủ đô đối với trọng âm của từ, mà ta còn phải Luyến nữa. Bởi vì trọng âm thường kéo dài gấp đôi gấp rưỡi các âm khác, nên nếu ta chỉ kéo dài nó ra và đọc to nó lên một cách chân phương nghe sẽ rất đơn điệu (khác với tiếng Việt có 5 thanh, cứ đọc ra đã có giai điệu rồi).

Để giải quyết vấn đề này, người ta phải luyến các trọng âm sao cho nghe thật sinh động. Có rất nhiều phong cách luyến tùy theo vùng ngôn ngữ, nhưng 3 vùng đặc trưng là Anh, Mỹ và Úc, chúng có các tính chất khá riêng biệt trên cùng một cơ sở chung. Trong đó, Anh-Mỹ có vẻ có phong cách luyến nghe ngọt hơn cả.

Việc luyến như thế nào cho đúng rất khó nói qua bài viết, hơn nữa còn tuỳ vào bạn thích luyến theo kiểu gì. Tuy nhiên, về cơ bản, việc luyến trọng âm khá giống với thanh NGÃ (~) trong tiếng Việt, khi kéo dài ra và đọc trầm bổng một cách rõ ràng hơn. Nghĩa là đầu tiên bạn thổi âm cho vồng lên rồi lại đè xuống, và kết thúc hơi lên một chút. (đồ thị cường độ âm tương tự như hình dấu ~). Nhưng hãy chú ý là nếu đọc khan như dấu Ngã của tiếng Việt (cụt lủn), thì chả bao giờ bạn đọc đúng cả, phải nhấn đủ đô (dài và mạnh).

Về lý thuyết là thế, nhưng để cho nhanh, các bạn nên tham khảo ngay trên TV, radio hay nghe người bản ngữ nói để tập theo (bản ngữ ở đây là các nước nói tiếng Anh chính thống).

2. Giai điệu của câu

Tương tự, trong câu có các trọng âm câu thì tương ứng cũng phải có giai điệu của câu. Cái này khó có thể miêu tả ở đây. Đây là điểm cứu cánh, tính chất quyết định cuối cùng đến một giọng nói hay.

Về nguyên tắc, câu nói phải lên bổng xuống trầm với các mốc của nó là các Trọng Âm Câu (xem phía trên). Các trọng âm câu không chỉ phải luyến nuột và rõ hơn các trọng âm thường một cách đơn thuần, mà nó còn phải có vai trò lãnh xướng (lead) các âm tiết quanh nó. Nghĩa là trước và sau khi luyến trọng âm câu, thì các âm tiết quanh nó cũng phải có một sự hậu thuẫn làm nền như thế nào đó...

*****

CÁC PHONG CÁCH NÓI TRONG TIẾNG ANH PHỔ THÔNG

Sau khi đã luyện được giọng nói có giai điệu, luyến liếc ngon lành, bạn có thể bước vào giai đoạn luyện nói thực sự hay luyện nói thực hành (practical speaking). Lúc này, bạn có thế coi có xuất phát điểm tương đương với người một bản ngữ thông thường. Thách thức của bạn bây giờ là nói phải hay, phải hấp dẫn người nghe, thậm chí hấp dẫn cả người bản ngữ.

Cũng như các ngôn ngữ khác, tiếng Anh có rất nhiều phong cách nói . Nếu các bạn không phân biệt được các phong cách trong các tình huống khác nhau, cứ bê nguyên một kiểu giọng mọi lúc mọi nơi thì dễ mắc phải tật ăn nói lộp bộp như gà mắc tóc. Nói chuyện phiếm ở quán nước phải khác với tranh luận trong cuộc họp, phát biểu phải khác với đọc bản tin…

Có rất nhiều phong cách, nhưng tạm chia ra các phong cách chính như sau:

1. Giọng nói chuyện thông thường:

Đây là phong cách phổ thông nhất mà ai cũng dùng hàng ngay khi trò chuyện. Chính vì thế, nó cũng không có quy tắc gì cả, ai thích nói kiểu gì thì nói, trầm bổng, đều đều, nhỏ to đều ok cả. Nhưng vì trò chuyện thường dài, phải nói nhiều nên người ta hay nói nhanh, chú ý tới trọng âm nhưng ít luyến, đồng thời nuốt âm tiết phụ rất nhiều. Các bạn có thể tham khảo trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là trên điện ảnh.

2. Giọng đọc bản tin, báo cáo

Đọc bản tin, báo cáo hay các loại hình tương tự đã bắt đầu phải có tình hình thức (formal) rồi. Người đọc bản tin có thể nói nhanh chậm tuỳ ý (các phóng viên và phát thanh viên của BBC, CNN thường đọc bản tin hay báo cáo khá nhanh, đặc biệt là tin nóng). Nhưng một yêu cầu quan trọng là phải rõ ràng, mạch lạc (vì đối tượng nghe là quần chúng) và trung tính, nghĩa là không nên đặt cảm xúc cá nhân vào câu nói (vì bản chất thông tin là phải khách quan).

3. Giọng đọc chương trình khoa học, phóng sự

Giọng đọc các chương trình kiểu phóng sự, khoa học thường thức… có yêu cầu cao hơn giọng bản tin. Nó có các tiêu chí sau:

- Rõ ràng mạch lạc (dĩ nhiên)

- Khoan thai (để người nghe còn có thời gian nắm những thông tin, nhất là thông tin khoa học)

- Mềm mại với một chút truyền cảm tương đối (nhằm mục đích lôi cuốn người nghe vào các thông tin thường là mới, chứ không phải đưa cảm xúc hay ý đồ cá nhân vào)

4. Giọng hùng biện

Đây là cấp khó nhất trong việc nói. Ngay chuyện nói trước công chúng đã không phải là việc dễ, nhất là với người Việt hay xấu hổ. Từ phát biểu, đọc diễn văn, đến diễn thuyết hay trình bày (present) hoặc nghị/tranh luận (luật sư chẳng hạn) trước đám đông đòi hỏi nhiều kĩ năng kết hợp, một trong đó là giọng nói hấp dẫn. Cái này là kết quả của năng khiếu cộng với luyện tập kiên trì. Nếu bạn là người không có khiếu hùng biện, thì hãy cần cù bù thông minh. Ngày trước có chuyện về một người hồi bé nói không ra hơi, về sau nhờ hàng ngày ngậm sỏi đứng nói át tiếng sóng biển mà trở thành nhà hùng biện nổi tiếng.

Ngoài các yêu cầu mạch lạc và rõ ràng, để luyện phong cách rất xương này ngoài còn phải rất lưu ý các điểm sau:

- Tốc độ: có thể lúc nhanh dồn dập, lúc khoan thai điềm đạm nhấn từng chữ tuỳ vào ý người muốn trình bày. Đặc biệt trọng âm câu phải rất chú trọng vì nó nêu bật ý người nói. Bình thường ta có thể nói với tốc độ trung bình, nhưng đến các từ khoá hay ngữ khoá, ta phải chậm lại, nhấn mạnh và rõ.

- Âm lượng: lúc trầm lúc bổng có kiểm soát, đặc biệt chú ý thổi âm và luyến vồng ở các trọng âm câu hay từ/ngữ khoá.

- Cảm xúc: càng truyền cảm càng tốt, vì phong cách này là phục vụ mục đích cá nhân (hay đại diện một tổ chức) nên càng khiến người nghe đồng tình với mình thì càng tốt (motivating).Tuỳ theo ý đồ, người nói hoà cả cảm xúc lẫn ý chí của mình vào câu nói, nhờ đó mà điều khiển tốc độ và âm lượng theo ý mình, giúp cho việc biểu hiện (express) được cái hồn của vấn đề.

Trên đây là 4 phong cách chính trong tiếng Anh nói riêng và các ngôn ngữ nói chung (kể cả tiếng Việt). Ngoài ra, còn có các phong cách trung gian, hay kết hợp giữa các phong cách trên, các bạn có thể bổ sung thêm cho đa dạng.

Việc phân biệt các phong cách nói theo tình huống là rất quan trọng, để người nói có thể lựa chon giọng nói cho phù hợp, nhằm đạt kết quả là truyền đạt thông tin đến người nghe một cách tối ưu. Hơn nữa, các phong cách khá khác biệt, không thể bệ nguyên cách nói ở tình huống này vào một tình huống khác được.


***

Các bạn phải dựa vào chính sức mình, tự tìm tòi ra phương pháp của riêng mình trong quá trình tự rèn luyện, với sự hỗ trợ của các tham khảo đắc lực là TV, radio hay người thực việc thực. Mọi lý thuyết sách vở chỉ là giáo điều, chỉ là cặn bã của người viết (Trang Tử), thực tế mới là quan trọng, bởi vì:



PHỤ LỤC 1: CÁC QUY TẮC TRỌNG ÂM VÀ PHÁT ÂM THƯỜNG GẶP

Vị trí tương đối của trọng âm so với các tiếp/hậu tố (suffix) đặc biệt

* Ghi chú:

Kí hiệu: ‘### trọng âm chính; ,### trọng âm phụ; Thông thường, các trọng âm phụ có thể không được kí hiệu trong một số từ điển, nhưng khi nói, các trọng âm phụ bao giờ cũng được đọc khá rõ. Thực chất, rõ nhất là trọng âm chính, sau đó là trọng âm phụ, còn các âm còn lại thì có thể nuốt đi.

Quy tắc: Trọng âm phụ hầu hết đứng cách trọng âm chính 1 âm tiết (trước hoặc sau). Một số ngoại lệ đứng cách 2 âm tiết như: ‘classifi’cation; de,terio’ration;…


1.Các hậu/tiếp tố (suffix) thường là Trọng âm:

#eer: engi’neer, volun’teer; pio’neer;…

#ese: ,Japa’nese; ,Vietna’mese;…

#ental: en,viron’mental; ,conti’nental;…


2.Trọng âm thường đứng ngay trước các hậu tố (suffix) sau:

--#ion: ,inter’nation; com’passion; re’ligion; ‘fashion …

--#ure: ad’venture‘; cre’ature; ‘pleasure; ‘injure;… (hầu hết áp dụng cho Danh từ, vì với động từ có một số trường hợp đặc biệt như in’sure, en’sure…vì trọng âm của động từ thường nằm ở âm tiết thứ 2)

--#ity: mu,nici’pality; ,possi’bility; ac’tivity; ‘family;…

--#ogy: tech’nology; bi’ology; ,metho’dology;…

--#aphy: bi’ography; pho’tography;…

--#ian: ,indo’nesian; ’indian;…

--#(i)um: ,audi’torium; a’quarium; mo’mentum, …

--#ial: ma’terial; ‘aerial;…

--#ative (mostly in 4 syllabled words): ‘talkative;con’servative; in’formative… (exception: ‘quantitative, ‘qualitative…)

--#ive (mostly in 2-3 syllabled words): con’ductive; pro’gressive, ‘active; ‘passive;…

--#ic(al): ‘infor’matic; ‘techno’logical, an’gelic; ‘comic…

--#ient/ienc#: efficien-t/ce/cy; pro’ficien-t/cy;…

--#ual: ,indi’vidual; con’ceptual;…

--#ious: re’ligious; de’licious; am’bitious …

--# ify: i’dentify; ’modify;…

--#ish: ‘English; de’molish; es’tablish;…

3.Trọng âm thường đứng cách một âm tiết trước các hậu tố (suffix) sau:

(đương nhiên chỉ áp dụng cho các từ có từ 3 âm tiết trở lên)

Chú ý: Một số hậu tố đơn thường là trọng âm phụ, hay chí ít cũng được đọc khá rõ (dù trong một số từ điển không ghi kí hiệu (,) là trọng âm phụ)

--*#ate: cer’tifi,cate; ‘confis,cate; …

--*#ise/ize: in’dustria,lise; ‘visua,lize; …

--*#age: ‘sabotage; ‘heritage;…

--*#ism/ist: ,ento’mologist; ‘moder,nism/ist; ‘natura,lism/ist ( (tural) đã bị đọc nuốt thành một âm là (tSral) nên (na) vẫn coi là cách (ism) một âm tiết); …

--*#er: phy’loso,pher; pho’togra,pher; in’terpre,ter; ‘moni,tor; ‘bache,lor;.. (ngoại trừ một số danh từ chỉ người được tạo nên bởi việc thêm (er) vào động từ 2 âm tiết vốn thường có trọng âm ở âm tiết thứ 2: per’form -- > per’former; … hoặc với trường hợp có (#ator) như co’ordi,nator; co’ope,rator;… vì giống trường hợp chứa tiếp tố (--#ate) )

--*#ory/ary: pre’paratory; vo’cabulary; la’borotory; ‘fragmentary… (nhưng đây là quy tắc yếu vì có nhiều trường hợp trọng âm nằm ngay trước nó chứ không cách: ,satis’factory, ,manu’factory; hay trong từ chỉ có 3 âm tiết: ‘sensory…)

4. Một số quy tắc khác

- Đối với động từ và tính từ có 2 âm tiết, thì trọng âm hầu hết nằm ở âm tiết thứ 2: im’port; ex’port; im’pact; ...; co’rrect; e’xact;...

- Đối với danh từ có 2 âm tiết, thì trọng âm hầu hết nằm ở âm tiết thứ nhất: ‘export; ‘import; ‘impact; ‘effort;...

- Đối với từ có 4 âm tiết kết thúc bằng #ent; #ence; #ency; #ant; #ance thì trọng âm đứng ở âm tiết thứ 2: en’vironment; e’quivalen-t/ce/cy; sig’nifican-t/ce;...

- Đối với từ có 3 âm tiết kết thúc bằng #ent; #ence; #ency; thì trọng âm thường đứng ở âm tiết thứ 1 khi bắt đầu có phụ âm: ‘preferen-t/ce; ‘consequen’t/ce;… còn đứng ở âm tiết thứ 2 khi bắt đầu bằng nguyên âm (trừ i) đơn thuần (nghĩa là mình nguyên âm tạo nên âm tiết thứ nhất, không kết hợp với phụ âm): e’mergen-t/ce/cy; occuren-t/ce;…

- Đối với từ có 2 âm tiết (đặc biệt là danh từ) thì trọng âm thường nằm ở âm tiết thứ nhất khi có các hậu tố sau: #ate, #ism/ist, #ent; #er, #age, #ous: ‘climate; ‘marxism; ‘artist; ‘payment; ‘player; ‘manage; ‘famous…

*****
PHỤ LỤC 2: LAN MAN MỘT CHÚT VỀ PHÁT ÂM

1. Anh-Anh và Anh-Mỹ

Các bạn học nói tiếng Anh thường băn khoăn là mình nên theo phong cách Anh-Anh (A-A)hay Anh-Mỹ (A-M). Thực ra theo phong cách nào cũng tốt cả, nhưng mọi người thường có xu hướng sính A-M hơn, nhà giàu cũng có khác nhở.

Vậy 2 dòng tiếng Anh này khác nhau những điểm nào trong phát âm:

- Phụ âm (r): A-M thường đọc rõ âm (r) trong mọi trường hợp, còn A-A thì để câm nếu nó không phải là phụ âm chính. Ví dụ (sir): A-M = [sơr:]; A-A = [sơ]. Nhưng thực ra, hầu hết các dòng tiếng Anh phương Tây như Anh-Đức, Anh-Hà Lan…hay cả Anh-Úc đều giống A-M trong trường hợp này. Nghĩa là chỉ có tiếng Anh thuần mới cải biên thế này, còn lại đều rrrrrrr hết.

- Phụ âm (o) ngắn: A-M đọc tương tự như [a]; còn A-A thì vẫn là [o]. Ví dụ, (not): A-M = [nat]; A-A = [not]

- Các nguyên âm ngắn không phải trọng âm: trong A-A, các nguyên âm như e, a, i, o, u khi ở dạng “ngắn” (khác với dạng dài thì có ký hiệu ( sau phiên âm như [o:], [a:]…) thì vẫn đọc như thường, nghĩa là quy tắc rất lung tung; còn trong A-M thì có xu hướng đơn giản hoá bằng cách đọc thành [ơ]. Ví dụ hậu tố (#ity) trong A-A đọc là còn A-M đọc là [ơty]; (#ful) trong A-A là [ful] còn A-M là [fơl]; (definite) trong A-A [‘definit] còn A-M thì [‘defơnơt]; (certificate, n) trong A-A là [sơ’tifikit] còn A-M là [sơ’tifơcơt]; (contribute, v) trong A-A là [cơn’tribjut] còn A-M là [cơn’tribjuơt]… Điều này có lẽ vì trong A-M, xu hướng nuốt âm mạnh hơn, nên các âm tiết không phải là trọng âm (chính hoặc phụ), thường chỉ được đọc gió phụ âm mà nuốt đi nguyên âm. Vì thế các âm sẽ bị biến đổi kiểu: …fi… -- > […f(ơ) …]; …cate […kit]-- > [k(ơ)t]

Trên đây là nhưng điểm khác nhau nổi bật giữa 2 dòng tiếng Anh chính trên thế giới là Anh-Anh và Anh-Mỹ (nếu không tính Anh-Úc vẫn bị coi là hơi “nhà quê”). Tất nhiên còn rất nhiều chi tiết nho nhỏ khác trong phát âm như giọng điệu, cách luyến… Còn nếu xét một cách toàn diện thì nói bao nhiêu cũng không hết về ngữ pháp, văn phong, cách dùng từ, điểm câu…

2.Những lỗi hay mắc điển hình trong nói tiếng Anh

a.Không phân biệt khi thay đổi trạng thái động-danh- tính:

Như đã nói ở trên, khi biến đổi động-danh- tính (trạng từ không tính vì nó chỉ biến đổi rất nhỏ bằng cách thêm ly vào cuối, trừ những tính từ bất quy tắc), thì chính tả của từ thường thay đổi, dẫn đến sự thay đổi của trọng âm và như một hệ quả, phát âm của cùng một âm tiết gốc cũng thay đổi tương ứng. Những người không được luyện phát âm cơ bản, thường mắc lỗi đánh đồng phát âm và trọng âm các âm tiết gốc của động-danh- tính của cùng một từ cho nó đơn giản. Lỗi này có thể do vô tình vì không biết, hoặc do cố tình vì biết nhưng lười nhớ.

Các bạn hãy chú ý từng chi tiết trong phiên âm của các ví dụ sau:

Inform [in’fo:m]-information [,info:’meiSơn]-informative [in’fo:mơtiv]

Prefer [pri’fơ]-preference [‘pref(ơ)rơns]-preferential [,pref(ơ)’renS(ơ)l]

Photograph [‘foutơgraf]-photograph-y/er[fơ’togrơf-i/ơ]-; photographic[,foutơ’graefik]-

Thế nào, chúng khác nhau hơi bị nhiều chi tiết đấy nhỉ, từ vị trí trọng âm chính và phụ lẫn phát âm???

Các bạn thấy rõ ràng là trọng âm thay đổi vị trí. Sở dĩ có sự thay đổi vị trí trọng âm bởi vì khi biến động-danh-tính, các tiếp/hậu tố thường được thêm hoặc bớt, và sự có mặt của các tiếp/hậu tố này sẽ tác động đến vị trí của trọng âm (e.g. Phụ lục 1).

Sự thay đổi vị trí của trọng âm khi biến đổi trạng thái động-danh-tính của từ dẫn đến một hệ quả là cách phát âm của các âm tiết trong từ đó cũng thay đổi. Thông thường, có các quy tắc tương đối sau:

- Khi nằm ở trọng âm (chính và phụ), các nguyên âm đơn thường được đọc theo phát âm thuần (khá giống phát âm gốc Latin) của nó: a [ae]; e [e]; o [o] (trong A-M đọc lái thành [a]); i [ i]; u [u/ju]; Các nguyên âm kép cũng thường được đọc theo quy ước: ai [ei]; ee, ie [i:]; ea [e:]/ [i:];… Dĩ nhiên, quy tắc này chiếm một % khá cao, chứ vẫn có rất nhiều trường hợp chúng phát âm theo quy ước bảng chữ cái như: a [ei] trong #ation [#eiS(ơ)n]; e [ i] trong ecomomic [,icơ’nomik]; o [ou] trong #otion [#ouS(ơ)n]; I [ai] trong finite [‘fainait];…

- Khi không phải là trọng âm, các nguyên âm đơn thường đọc khác đi, o [ơ]; e [ i]; a [ơ]; u [a]/ [ơ];… đặc biệt trong A-M thì đa số được nuốt âm để thành [ơ] như đã nói ở trên. Các nguyên âm kép thì thường là bất quy tắc, có khi phát âm theo quy ước, có khi lung tung cả.

Các bạn có thể thấy 2 quy tắc trên qua các ví dụ trong bài này, hoặc cụ thể là ví dụ sau:

Academy (n) [ơ’kaedơmi] – academic (a) [,aecơ’demik]
Ngoài ra, ngay cả khi từ được giữ nguyên dạng chính tả khi thay đổi trạng thái thì có rất nhiều trường hợp vị trí trọng âm cũng thay đổi.

- Trường hợp hay gặp là các từ có 2 âm tiết mà danh và động từ như nhau, ví dụ: impact(n) [‘impaekt]-impact(v) [im’paekt]-; ‘export(n) [ekspo:t]-ex’port(v) [iks’po:t ]; record(n) [‘rekơ:d] - record [ri’ko:d]… (xem 4. Một số quy tắc khác, Phụ Lục 1).

- Một số trường hợp giữ nguyên dạng khác: hậu tố (#ate): ở động từ, phát âm là [#eit] và được nhấn như một trọng âm phụ; nhưng nếu ở danh-tính từ thì là [#it] (A-A) hay [#ơt] (A-M) và nhấn nhẹ hơn: certificate(v) [sơ’tifi,keit]/ [sơ’tif(ơ),keit] - certificate(n) [sơ’tifikit]/ [sơ’tif(ơ)kơt]; elaborate(v) [i’laebơ,reit] - elaborate(n, a) [i’laebơrit]/ [i’laeb(ơ)rơt].

- Tuy nhiên, cũng có rất nhiều trường hợp bất quy tắc. Ví dụ trong các từ 2 âm tiết có danh và động từ như nhau, thì cả phát âm lẫn trọng âm cũng như nhau luôn, ví dụ: re’port; de’lay;…Trường hợp giữ nguyên như thế này có khi nhiều hơn cả trường hợp có biến đổi, nên không biết là cái nào mới gọi là bất quy tắc.

b. Một số trượng hợp cụ thể về phát âm dễ sai:

[I]-Hậu tố (#age): sai: [#eidZ] - đúng: [#idZ] (heritage…), đặc biệt hơn là sabotage [‘saebơtadZ]

-hậu tố (#ate) ở danh hay tính từ chỉ có một trạng thái không biến đổi: sai [#eit] – đúng [#it]/[#ơt]. ví dụ: climate [‘claimit]/[‘claimơt]; hostel-mate [‘host(ơ)lmit]/[‘host(ơ)lmơt]; affectionate [a’fekS(ơ)nit]/ [a’fekS(ơ)nơt];…

-hậu tố (#able): sai [#eibl] – đúng [#ơbl]. Ví dụ: vegetable: sai [‘vedZteibl] – đúng [‘vedZtơbl]; comfortable: sai [‘kamfơteibl] – đúng [‘[‘kamfơtơbl];… (ngoại lệ: unable [a’neibl]).

-#ea#: khá là bất quy tắc, khi thì là [#i:], khi là [#e:], đặc biệt là biến đổi khi biến đổi trạng thái của từ, ví dụ: threat (n) [thre:d]– threaten [‘thri:t(ơ)n]; read (v) [ri:]– read (quá khứ) [re:d]; lead (v) [li:d]: lãnh đạo – lead (n) [le:d]: chì (đồng âm khác nghĩa);…

-Ngoài ra, có các từ cụ thể mà thường bị sai: Knowledge: sai [‘nouledZ] - đúng [‘no:lidZ]; tomb raider: sai [tomb raidơ] – đúng [tum reidơ]; load: sai [lwad] – đúng [loud] (trường hợp trong tin học); exhibition: sai [,ikshi’biSn] – đúng [,eksi’biSn];


***

Lời cuối:

Về phát âm, thật chuẩn theo một dòng Anh ngữ chính thống như Anh-Anh, Anh-Mỹ hay Anh-Úc thì là rất tốt. Tuy nhiên, quy tắc phát âm của tiếng Anh khá lung tung vì tính phổ cập của nó ở các vùng địa lý trên thế giới, ngay cả trong cùng một quốc gia hay một vùng, phát âm cũng đã biến dị rất nhiều. Vì thế, không nhất thiết phải quá hoàn thiện cho vấn đề này, trừ phi bạn cực kì cầu toàn.

Nhưng bạn phải rất lưu ý về trọng âm, bởi vì dù ở các vùng nói ti

OoSoOSwtJenna
Feb 5, 2007, 02:10 AM
hmmmm....bad article I totally disagreed...vay thi Tuan co thay Jen noi tieng anh nghe hay ko? lolzZz

:D :lol:

Tuan Boston
Feb 5, 2007, 09:28 AM
Jen dau phai la nguoi Viet dau :) (case closed)

CanhEn1Minh
Mar 22, 2007, 12:16 AM
Phewww! Doc het cai bai van roi. Mung qua'! E'n cu tuong chi khi ddoc Enghlish moi fai doc di doc lai a sentence den may lan moi hieu duoc y. Khong ngo En cung bi may cau van tieng "me de" nay lam kho nua. :(



I disagree with one y' trong this article. Doc nhanh khong nhat thiet muon nguoi ta noi "con nho do' noi tieng Anh nhu gio" dau. Ma vi ....nervous....muon get over it as soon as possible. :oops:

luvlybunny
Apr 28, 2008, 08:52 PM
Oh my goodness...that's such a long article & I could only finish 1/3 of it. It sounds interesting & fun to read. Well, I'll continue to read the rest some other time. Now I just want to leave a brief comment about "Tai Sao Nguoi Viet Noi Tieng Anh Khong Hay?" First, I want to thank Tuan Boston for that valuable article. Even though I only read 1/3, but I totally agree w/ it (not the rest cuz I haven't read it). I've seen many Viet people as article mentioned when they speak English. I still don't know why many Viet just come to US for few years or still reside in VN speak English so fast & now I know why since I read that article. I'm a talkative type, but I speak kind of slow when I first came to US. Time to time, I'm getting faster & not even notice why I speak like that. Sometimes I talk fast cuz I want to express or let it out those thoughts in my mind. I forget very easy so which means I talk fast cuz I'm afraid I'll forget the thoughts. In addition, living in a Caucasian area will help Viet ppl speak & pronounce much better; however, some Viet are lazy learning to pronounce correctly even they have opportunity to communicate English often or came here in the early ages. If they live in US for a long time but speak Viet most of the time, then those ppl can't improve English at all. Environment gives us great pportunities, but if we don't keep practice & learn English day by day even we've been in US long, then our English will be as poor as we first came to a foreign country.

Handsome Bear
Apr 30, 2008, 02:30 AM
Oh my goodness...that's such a long article & I could only finish 1/3 of it. It sounds interesting & fun to read. Well, I'll continue to read the rest some other time. Now I just want to leave a brief comment about "Tai Sao Nguoi Viet Noi Tieng Anh Khong Hay?" First, I want to thank Tuan Boston for that valuable article. Even though I only read 1/3, but I totally agree w/ it (not the rest cuz I haven't read it).


The article that Miss Bunny mentioned provides three reasons why Vietnamese can’t speak English well. According to the article, it is because:
1. We think we have already spoken well so we don’t want to learn any further;
2. We speak too fast; and
3. We don’t take time to learn properly.

The reasons may be true, but I would beg to differ, especially on the reason number 1.

Xí-xon, bon-chen, and without being a linguistic expert, I want to put in my two cents about why most of us Vietnamese find English difficult to pronounce. I believe that many of us mít cannot pronounce English words well because:

1. English has many weird sounds.
There are plenty of English sounds that are no where to be found in Vietnamese. For example, we don’t have the sound “dr” as in drink and drive. Therefore, some of us would pronounce them as “trink and trive”, or “rink and rive”. Another killer sound is “th” as in this, that, think, through. I have seen many Vietnamese with half of their tongue accidentally bitten off and still can’t pronounce “th” properly. :sad_no:

2. The English phonetics is inconsistent.
Inconsistency in English is notorious. It is so weird that even the French laugh at them. How in the world we Vietnamese figure the difference between “present” (noun) and “present” (verb)? How about “lose” (long oo with z as ending sound) versus “loose” (also long oo but with s as ending sound)? Why is it that “o” is a long o as in “go”, but a long “oo” as in “to”?

Near San Jose, California, there is a chain sandwich shop named “Togo's Eatery”. À há, I know how you would pronounce togo. It is “tu gô”, right? Nope, it’s “tô gô”. Figure that out! :chair:

Pronouncing English vowels confuses us Vietnamese to high heaven. How do we know that “ea” as in wheat is pronounced with long e instead of short e as in weather? When will an “a” be pronounced with a long a, short a, or a shwa? Shwa? Yes, shwa. That’s the term the American uses for every funny vowel sound that doesn’t meet the common sense.

Faur igzaamp^l, UPON and OPOEZ. Ie ^gree sumthing liek dhis kan bee weurkt out, but how doo wee tel wich inish^l let^r too uez ? The inish^l let^rz hav igzakli the saem sound.

(Translation: For example, UPON and OPPOSE. I agree something like this can be worked out, but how do we tell which initial letter to use? The intial letters have exactly the same sound.)

Gimme a break! :shoock:

3. There are stresses in English words.
This is unique in English. French doesn’t have it. Spanish doesn’t have it. One would have never heard of it in Vietnamese. But English has it. Let’s take a common French and English word “conversation”. When the French says it, each syllable has an equal share of emphasis: "con.ver.sa.ti.on". However, when American pronounces the word, they stress the sound “sa” as in "con.ver.SA.tion". If you ask them why, they'd shrug their shoulders and say that it's how they're supposed to say it. Great reason, huh? I am so stressed with all those stressed syllables. I have got to get a live-in psychiatrist. :pullhair:

4. Three are many syllables in English words.
Multiple-syllable words are common in many languages, but they are strange for us Vietnamese. OK, I agree that we tend to speak fast, but it’s not because we want to show off our funny accent. It’s just because we are used to express everything with a much shorter, one syllable word. Since many English words contain two or more syllables, it would take us twice as long to describe things in English as we do in Vietnamese. To compensate for the time it takes to cover those silly syllables, we speak fast. :bochay:

Sometimes, when speaking fast is not enough, we start cutting corners. We chop off couple syllables in a long word; we skip the ending sounds; and we even ignore the stress on the right syllable so we can express ourselves the way we think it should be, which, mind you not, the Vietnamese way. :thumb:

5. And last, we are not American born.
As Miss Bunny mentioned in her recent class, there is such thing called linguistic intelligence. Some of us possess such intelligence and pronounce every English word perfectly, but some don’t. In my case, I blame it on my mom. As Phạm Duy wrote in his "Tình Ca", I got stuck with "tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi" and let it become "tiếng lòng tôi." Now, my mom's "tiếng ru muôn đời" stayed with me forever. Had she sung those lullabies in English, I would have already spoken like those ăng lê! Oh well, I still love her, anyway. :hug:

No matter what, I believe that there is nothing wrong with speaking with accent. I, myself, find girls who speak English with a little accent are highly … seductive :heart:. The exotic accent makes us unique and special. Our English pronunciation may not be perfect; it may not be as natural as an American's; but yet, it is sooooo cute. :blush:

I’d take home a lady with a slight Vietnamese accent to show mom over a true, 100% full-blooded American anytime. :wub:

--- o0o ---

There, y’all probably had it with my silly reasons, but if you have all night, we can always talk some more. I have no trick to offer in order to make us pronounce English words any better. For me, speaking a second language is just a form of communication, and if we speak correctly, we meet our objective.

“What’s the definition of speaking correctly?” you yell. Well, to tell you the truth, I’ve just made it up. I can’t find the official definition, but if you are interested, I can tell you my definition.

When people speak English correctly, they speak with good grammar and with understandable pronunciation, providing that they have the vocabulary to describe their objectives.

Their level of effort in learning the language is judged by the way they form a sentence, and the common vocabulary that they have in their pockets. The pronunciation, on the other hand, exhibits their skill, or in psychological term, their level of linguistic intelligence. To speak with an understandable pronunciation means that they will have to 1, pronounce every syllable as shown in the dictionary; 2, stress the correct syllable; and 3, pronounce the necessary ending sound.

When we do all that, most American would be willing to forgive our way of say “park” with short a instead of a shwa :clap:

--- o0o ---

Hidden Disclaimer:
The above essay is written by a Vietnamese who speaks English so well that when people hear him talk to an American; they have nothing else to say but, “Wow, Handsome Bear này nói tiếng Campuchia hay quá.” :tongue:


:thankyou:

Handsome Bear
Apr 30, 2008, 08:49 PM
Well, I feel like a rebel writing such a long opinion about speaking English in my previous post.

To make up, I love to share this old old song to you all. It's Tình Ca, written by Phạm Duy and sung by Thái Thanh. :clap:

http://www.youtube.com/watch?v=Ev0YwbawyiU


:thankyou:

Tomcang
May 8, 2008, 05:29 PM
troi doc bai nay moi thay tui la ech ngoi day gieng thiet

dung la chien gia co khac

chuc mung va rat rat cam on

Dieu_nhac
May 15, 2008, 11:13 AM
Tại sao người Việt nói tiếng Anh không hay?

Because we are trying too hard.

Learning English is not an easy thing to do. Many people ( not just Vietnamese) have common problems when it comes to learning and mastering the language. But however, if you practice carefully, you can always improve.

What is the best way to speak English?

According to experts, you use the English that you feel the most comfortable with. You don't have to sound like an American when you are speaking English, as long as you feel comfortable the way you use English, is the most important thing of all. Of course, it is also important for the other person to understand what you are saying as well.
Don't worry too much about sounding like somebody else, don't try to copy some body's way of speaking. What you have to do is develop your own way of using English. English is an emotional language, it is a personal language. It is a language that you use to express the way you feel, so don't worry about sounding like a native speaker. Use English as you use your own language, in your own way to express the way you feel. So you don't have to sound like some American, you don't have to sound like any body. What you have to sound like is YOU.

Don't forget the old saying " Practice makes perfect" the more you use it, the better you get. The more you use English, the better your English will get, and the more you enjoy English, the more you want to use it. It is a very simple method.

Mag_Na_Ni_Mi_Ty
May 15, 2008, 02:31 PM
%-(:-O^:)^[-X\:D/8->:-c~X(:-?8-|:(([-O<:))>:/[-(:-??:-j:)]:D>:D<:D;;)#:-S

Ok, I have enough of this "Tại Sao Người Việt Nói Tiếng Anh Không Hay ?" non-sense.

What the heck did the writer want to say?:-S (Yes, I scan the article and understood it messages)
Should the "Title" of that article be revised?:-? (Yes, a definite, resounding YES!)
Perhaps it should read something like "Người Việt thích nói tiếng Việt cho nên đây là những gì cần phải lưu ý khi phát âm Anh ngữ!"(:|

For goodness sake! :-"everyone has his or her own accent, or a special way of generating those noises from the vocal cord that became languages. :-<Look at the few funny icons I posted at the beginning of this reply. If I was to ask 10 people "Which one do you like?" or " Which one describes you?", will everyone gives the SAME answer? NO!:))

The amazing thing is how did we make the connections between what we see on paper (or on the monitors) to become what it ought to sound :-@in order to illustrate what it is *-:)or what we want ~O)>:/or how we feel, X(:-O:-j=))[-( =((:x%-(etc.

It all started out with an article that was "found" on the "Web" (my goodness, of all places).^:)^
Again, it is NOT that "Người Việt nói tiếng Anh không hay". The question ought to be: "What should a Vietnamese speaking individual focus on to improve his/her pronunciation skill in English? (American<>British)"

:scooter: Answer: Attend MAG's discussion hour in ESE open forum next Wednesday (05/21/08) to find out! (Time: 20:00-22:00 PST /-8 GMT/ or Vietnam -> (22-5-2008) 10:00-12:00 / +7 GMT) :secret:@};-(*):)]o-+

Mag_Na_Ni_Mi_Ty
May 16, 2008, 11:18 AM
:-O^:)^[-X\:D/8->:-c~X(:-?8-|:(([-O<:))>:/[-(:D:-??:-j:)]:D>:D<;;)#:-S

Ok, I have enough of this "Tại Sao Người Việt Nói Tiếng Anh Không Hay ?" non-sense. :-/

I believe I know what the author is "trying" to say.....:-S (Yes, I looked at the article and understood the messages)

Should the "Title" of that article be revised? :-? (Sure, because it has to deliver the right message and project the correct image!)

Perhaps it should read:"Người Việt thích nói tiếng Việt cho nên đây là những gì cần phải lưu ý khi phát âm Anh ngữ!" :-??

:-"A Vietnamese speaking person learning English has no more advantages or disadvantages comparing to someone who came from India or Saudi Arabia, even though it varies with individual and efforts.

Here's the good news
1 ) We are born with the ability to learn, to imitate, to assimilate and to adapt to our surrounding the second we came into this world.

Here are some of the challenges:

1) Learning a different language at a later, more matured, age when our minds are filled with plenty of experiences, images, good habits and bad habits, is NOT and overnight endeavor.

2) The most important of all is the fact that most us live in Vietnam and still speak Vietnamese daily and English occasionally. (nói tiếng Việt mỗi ngày nhiều hơn nói tiếng Anh là dĩ nhiên rồi, mấy anh làm sao mà cua mấy cô được khi hát bài My Endless Love in "Englit").

3) Our personal surroundings and the environments in which we use our communication skills (not in English) for things beyond business (this has to do with family and personal relationships) has a strong impact on the way we talk.

Simply put, learning to speak English clearly and pronounce a non-native language correctly for many of us will NOT be "a piece of cake". (Phát âm tiếng ang-le không phải tiếng mẹ ru ngủ thì chẳng dể ăn như xôi bắp đâu)

For some, it will be faster, for others it takes more efforts.

Conclusion: Yes, it can be done. How? (answers to follow)

To succeed it requires determination and a positive attitude from you.

Here are couple of things you need to keep in mind:
1 - evaluate yourself with the feedbacks you got.
2 - be cognitive of your progress, or lack there of.
3 - be consistent on your journey (the motivation is in you.)

Remember, the challenge is for the volunteer instructors. You have different talents %-(:-O=))^:)^=((X([-(:x:-j

#-oit all started out with an article that was "found" on the "Web" and "tai. sao?" "Người Việt nói tiếng Anh không hay". is misleading. :-$

Constructively it should read: ":-? The differences between the two languages, English and Vietnamese. :)]:-c What can you do to speak English clearly while still keeping that charming Viet's accent?" ;) /:)Note: and we all know (American English <> British English)

:scooter: To find out more! - see you soon: Attend MAG's discussion hour in ESE open forum next Wednesday (05/21/08) <--US: 20:00-22:00 PST /-8 GMT/ or @};-(*):)]o-+:secret:-> VN (22-5-2008) 10:00-12:00 / +7 GMT) <-- Vietnam

ThanksForTeachingMe
Aug 12, 2009, 11:49 AM
Bây giờ Thanks đã biết vì sao mình nói tiếng Anh không hay. :) Đây là một bài Thanks nhặt từ một website khác (cách học ngoại ngữ của một thầy giáo.) Biết chừng nào Thanks mới nói tiếng Anh hay đây ta? :-?


LÀM SAO NGHE ĐƯỢC TIẾNG ANH
(và nói chung: MỘT NGOẠI NGỮ)

Một trong những trở ngại lớn nhất của chúng ta khi học một ngoại ngữ ấy là chúng ta quá… thông minh và có quá nhiều kinh nghiệm.

Quá thông minh: vì mình không thể nào chấp nhận nghe một câu mà mình không hiểu: cần phải hiểu một câu nói gì trước khi nghe tiếp câu thứ hai, nếu không thì mình không buồn nghe tiếp.

Quá kinh nghiệm: Cuộc đời đã dạy ta không nghe những gì người khác nói mà chỉ hiểu những gì mà nội dung chuyển tải. Nếu không hiểu nội dung, chúng ta không thể lặp lại lời người kia. Cũng vì thế mà - trong giai đoạn đầu học ngoại ngữ - mỗi lần nghe một câu tiếng Anh thì trong đầu phải dịch ra được tiếng Việt thì mới yên tâm, bằng không thì … câu ấy không có nghĩa.

Thế nhưng, đấy là lối học sinh ngữ ngược chiều. Tôi biết được 6 ngôn ngữ, trong đó có ba ngôn ngữ thành thạo nghe nói đọc viết: Việt - Anh - Pháp, và tôi thấy rằng trong các ngôn ngữ tôi biết thì, một cách khách quan, nghe và nói tiếng Việt là khó nhất (vì ở phương tây, không có ngôn ngữ nào mà mình đổi cao độ của một từ thì ý nghĩa từ ấy lại thay đổi: ma - má - mà - mạ - mã - mả). Nhưng các bạn ở forum này, cũng như tôi, đều không có vấn đề gì cả với cái sinh ngữ khó vào bậc nhất ấy!

Thế nhưng những thầy cô dạy chúng ta nghe nói tiếng Việt chẳng phải là những vị chuyên viên ngôn ngữ như các thầy ngoại ngữ mà ta học tại các trường. Thầy dạy tiếng Việt chúng ta là tất cả những người quanh ta từ ngày ta ra đời: cha mẹ, anh chị, hàng xóm, bạn bè… nghĩa là đại đa số những người chưa có một giờ sư phạm nào cả, thậm chỉ không có một khái niệm nào về văn phạm tiếng Việt. Thế mà ta nghe tiếng Việt thoải mái và nói như sáo. Còn tiếng Anh thì không thể như thế được. Ấy là vì đối với tiếng Việt, chúng ta học theo tiến trình tự nhiên, còn ngoại ngữ thì ta học theo tiến trình phản tự nhiên.

Từ lúc sinh ra chúng ta đã nghe mọi người nói tiếng Việt chung quanh (mà chẳng bao giờ ta phản đối: "tôi chẳng hiểu gì cả, đừng nói nữa"! Mới sanh thì biết gì mà hiểu và phản đối!). Sau một thời gian dài từ 9 tháng đến 1 năm, ta mới nói những tiếng nói đầu tiên (từng chữ một), mà không hiểu mình nói gì. Vài năm sau vào lớp mẫu giáo mới học đọc, rồi vào lớp 1 (sáu năm sau khi bắt đầu nghe) mới tập viết… Lúc bấy giờ, dù chưa biết viết thì mình đã nghe đưọc tất cả những gì người lớn nói rồi (kể cả điều mình chưa hiểu). Như vậy, tiến trình học tiếng Việt của chúng ta là Nghe - Nói - Đọc - Viết. Giai đoạn dài nhất là nghe và nói, rồi sau đó từ vựng tự thêm vào mà ta không bao giờ bỏ thời gian học từ ngữ. Và ngữ pháp (hay văn phạm) thì đến cấp 2 mới học qua loa, mà khi qua hết trung học thì ta đã quên hết 90% rồi.

Nhưng tiến trình ta học tiếng Anh (hay bất cứ ngoại ngữ nào) thì hoàn toàn ngược lại.

Thử nhìn lại xem: Trước tiên là viết một số chữ và chua thêm nghĩa tiếng Việt nếu cần. Và kể từ đó, học càng nhiều từ vựng càng tốt, kế đến là học văn phạm, rồi lấy từ vựng ráp vào cho đúng với văn phạm mà VIẾT thành câu! Rồi loay hoay sửa cho đúng luật! Sau đó thì tập đọc các chữ ấy trúng được chừng nào hay chừng ấy, và nhiều khi lại đọc một âm tiếng Anh bằng một âm tiếng Việt! (ví dụ fire, fight, five, file… đều được đọc là ‘phai’ ). Sau đó mới tới giai đoạn NÓI, mà ‘nói’ đây có nghĩa là Đọc Lớn Tiếng những câu mình viết trong đầu mình, mà không thắc mắc người đối thoại có hiểu 'message' của mình hay không vì mình chỉ lo là nói có sai văn phạm hay không. Lúc bấy giờ mới khám phá rằng những câu mình viết thì ai cũng hiểu, như khi mình nói thì chỉ có mình và … Thượng Đế hiểu thôi, còn người bản xứ (tiếng Anh) thì ‘huh - huh’ dài cổ như cổ cò!

Sau thời gian dài thật dài, mình khám phá rằng mình từng biết tiếng Anh, và nói ra thì người khác hiểu tàm tạm, nhưng khi họ nói thì mình không nghe được gì cả (nghĩa là nghe không hiểu gì cả). Lúc bấy giờ mới tập nghe, và rồi đành bỏ cuộc vì cố gắng mấy cũng không hiểu được những gì người ta nói.

Vấn đề là ở đó: chúng ta đã học tiếng Anh ngược với tiến trình tự nhiên, vì quá thông minh và có quá nhiều kinh nghiệm. Tiến trình ấy là Viết - Đọc - Nói - Nghe!
Vì thế, muốn nghe và nói tiếng Anh, chuyện đầu tiên là phải quên đi kinh nghiệm và trí thông minh, để trở lại trạng thái ‘sơ sinh và con nít’, và đừng sử dụng quá nhiều chất xám để phân tích, lý luận, dịch thuật!

Và đây là bí quyết để Nghe:

A. Nghe thụ động:


1. - ‘Tắm’ ngôn ngữ. Nghe không cần hiểu: Hãy nghe! Đừng hiểu.

Bạn chép vào CD một số bài tiếng Anh (vì dụ từ trên forum này). Mỗi bài có thể dài từ 1 đến 5 phút.

Khi nào bạn ở nhà một mình, thì mở các bài đó ra vừa đủ nghe, và cứ lặp đi lặp lại mãi ra rả như âm thanh nền suốt ngày. Bạn không cần để ý đến nó. Bạn cứ làm việc của mình, đánh răng, rửa mặt, học bài làm bài, vào internet… với tiếng lải nhải của bài tiếng Anh. (thậm chí, trong lúc bạn ngủ cũng có thể để cho nó nói).

Trường hợp bạn có CD player, USB player hay iPod, thì đem theo để mở nghe khi mình có thời gian chết - ví dụ: di chuyển lâu giờ trên xe, đợi ai hay đợi đến phiên mình tại phòng mạch.

Công việc ‘tắm ngôn ngữ’ này rất quan trọng, vì cho ta nghe đúng với từng âm của một ngôn ngữ lạ. Tai của chúng ta bắt rất nhanh một âm quen, nhưng loại trừ những âm lạ. Ví dụ: Nếu bạn nghe câu: ‘mặt trời mọc cánh khi chim voi truy cập chén chó’, một câu hoàn toàn vô nghĩa, nhưng bảo bạn lặp lại thì bạn lặp lại được ngay, vì bạn đã quá quen với các âm ấy. Nhưng khi một người nói một câu bằng chừng ấy âm (nghĩa là 11 âm/vần), trong ngôn ngữ bạn chưa từng học, và bảo bạn lặp lại thì bạn không thể nào lặp lại được, và bảo rằng… không nghe được! (Bạn có điếc đâu! Vấn đề là tai bạn không nhận ra được các âm!) Lối 'tắm ngôn ngữ' đó chỉ là vấn đề làm quen đôi tai, và sau một thời gian (lâu đấy chứ không phải vài ngày) bạn sẽ bắt được các âm của tiếng Anh, và thấy rằng âm ấy rất dễ nghe, nhưng hoàn toàn khác với âm Việt. Đừng nản lòng vì lâu ngày mình vẫn không phân biệt âm: hãy nhớ rằng bạn đã tắm ngôn ngữ tiếng Việt ít ra là 9 tháng liên tục ngày đêm trước khi mở miệng nói được tiếng nói đầu tiên và hiểu được một hai tiếng ngắn của cha mẹ; và sau đó lại tiếp tục 'tắm ngôn ngữ' Việt cho đến 4, 5 năm nữa!

2 - Nghe với hình ảnh động.

Nếu có giờ thì xem một số tin tức bằng tiếng Anh (một điều khuyên tránh: đừng xem chương trình tiếng Anh của các đài Việt Nam, ít ra là giai đoạn đầu, vì xướng ngôn viên Việt Nam, phần lớn, nói rất gần với âm Việt Nam (kể cả pronounciation), nên mình dễ quen nghe, và từ đó lỗ tai mình lại hỏng, về sau lại khó nghe người bản xứ nói tiếng Anh - thế là phải học lại lần thứ hai!). Các hình ảnh đính kèm làm cho ta ‘hiểu’ được ít nhiều nội dung bản tin, mà không cần phải ‘dịch’ từng câu của những gì xướng ngôn viên nói. Bạn sẽ yên tâm hơn, sau khi nghe 15 phút tin tức, tự tóm lược lại, thì mình thấy rằng mình đã nắm bắt được phần chính yếu của nội dung bản tin. Và đây là cách thứ hai để tắm ngôn ngữ.

B. Nghe chủ động.

1. Bản tin special english:

- Thu một bản tin, và nghe lại rồi chép ra nhiều chừng nào hay chừng nấy… nhớ là đừng tra cứu tự điển hay tìm hiểu nghĩa vội. Đoán nghĩa trong nội dung câu, và nhớ lại âm thanh của từ, hay cụm từ đó, sau này tự nó sẽ rõ nghĩa, nếu trở đi trở lại hoài.

(Ngày xưa, trên đài VOA, sau mỗi chương trình tôi thường nghe một cụm từ tương tự như: statue, statute hay statu gì đó, mà không biết viết thế nào, tuy vẫn hiểu đại loại là: hãy đợi đấy để nghe tiếp. Mãi sau này tôi mới biết rằng thuật ngữ rất quen thuộc ấy là 'stay tune', nhưng một thời gian dài, chính tả của chữ ấy đối với tôi không thành vấn đề!)

2. Chăm chú nghe lại một số bài mình từng nghe trong giai đoạn ‘tắm ngôn ngữ’

- Lấy lại script của những bài mình từng nghe, đọc lại và nhớ lại trong tưởng tượng lời đọc mà mình từng nghe nhiều lần.


Sau đó xếp bản script và nghe lại để hiểu. Lần này: tự nhiên mình sẽ nghe rõ từng tiếng và hiểu. Trường hợp không hiểu một từ hay cụm từ, thì gắng lặp lại nhiều lần đúng như mình đã nghe, sau đó lật lại script để so sánh.

3. Nghe nhiều lần, trước khi đọc script. Sau đó, đọc lại script, chủ yếu kiểm tra những từ mình đã nghe hoặc đoán, hoặc những từ mà mình có thể phát âm lại nhưng không hiểu viết và nghĩa thế nào. Qua việc này, nhiều khi ta phát hiện rằng một từ mình rất quen thuộc mà từ xưa đến nay mình cứ in trí là phải nói một cách nào đó, thì thực ra cần phải nói khác hẳn và phát âm như thế thì mới mong nghe đúng và nói cho người khác hiểu. Sau đó, xếp bản script và nghe lại một hai lần nữa. (Ví dụ: hai chữ tomb, bury, khi xưa tôi cứ đinh ninh là sẽ phát âm là 'tôm-b(ơ), bơri' - sau này nghe chữ 'tum, beri' tôi chẳng hiểu gì cả - dù cho tôi nghe rõ ràng là tum, beri -cho đến khi xem script thì mới vỡ lẽ!)

4. Học hát tiếng Anh, và hát theo trong khi nghe.


Chọn một số bài hát mà mình thích, tìm lyrics của nó rồi vừa nghe vừa nhìn lyrics. Sau đó học thuộc lòng và hát song song với ca sĩ, và gắng phát âm cũng như giữ tốc độ và trường độ cho đúng. Khi nào buồn buồn cũng có thể tự hát cho mình nghe (nếu không có giọng tốt và hát sai giọng một tí cũng không sao, vì chủ yếu là tập phát âm, tốc độ, trường độ và âm điệu tiếng Anh).


Và nói cho đúng giọng (qua hát) cũng là một cách giúp mình sau này nhạy tai hơn khi nghe, vì thường thường ngôn ngữ trong các bài hát khó nghe hơn những câu nói bình thường rất nhiều.

Trước khi tạm dừng topic này, tôi muốn nói thêm một điều.

Có bạn bảo rằng hiện nay mình chưa hiểu, nên cố gắng nghe nhiều cũng vô ích, để mình học thêm, khi nào có nhiều từ vựng để hiểu rồi thì lúc đó sẽ tập nghe sau.

Nghĩ như thế là HOÀN TOÀN SAI. Chính vì bạn chưa hiểu nên mới cần nghe nhiều hơn những người đã hiểu. Muốn biết bơi thì phải nhảy xuống nước, không thể lấy lý do rằng vì mình không thể nổi nên ở trên bờ học cho hết lý thuyết rồi thì mới nhảy xuống, và sẽ biết bơi! Chưa biết bơi mà xuống nước thì sẽ uống nước và ngộp thở đấy, nhưng phải thông qua uống nước và ngộp thở như thế thì mới hy vọng biết bơi.

Muốn biết bơi, thì phải nhảy xuống nước, và nhảy khi chưa biết bơi. Chính vì chưa biết bơi nên mới cần nhảy xuống nước.

Muốn biết nghe và hiểu tiếng Anh thì phải nghe tiếng Anh, nghe khi chưa hiểu gì cả! Và chính vì chưa hiểu gì nên cần phải nghe nhiều.


LÀM SAO NGHE ĐƯỢC TIẾNG ANH (2)

- NGHE BẰNG TAI -


Khi tôi bảo rằng chúng ta gặp trở ngại khi học ngoại ngữ vì thông minh và có nhiều kinh nghiệm, có người cho rằng đó là nói theo nghĩa bóng. Không phải đâu, tôi nói theo nghĩa đen đó! Qua sự kiện sau (và ACE chắc chắn cũng từng gặp những trường hợp tương tự) ACE sẽ thấy ngay. Một người bạn từng dạy Anh Văn ở Trung Tâm Ngoại Ngữ với tôi, sau này sang định cư ở Mỹ. Anh cùng đi với đứa con 7 tuổi, chưa biết một chữ tiếng Anh nào. 11 năm sau tôi gặp lại hai cha con tại Hoa Kỳ. Con anh nói và nghe tiếng Anh không khác một người Mỹ chính cống. Trong khi đó anh nói tiếng Anh tuy lưu loát hơn xưa, nhưng rõ ràng là một người nước ngoài nói tiếng Mỹ. Khi xem chương trình hài trên TV, con anh cười đúng với tiếng cười nền trong chương trình, trong khi đó anh và tôi nhiều khi không hiểu họ nói gì đáng cười: rõ ràng là kỹ năng nghe của con anh hơn anh rồi! Điều này chứng tỏ rằng khi sang Mỹ, anh đã có kinh nghiệm về tiếng Anh, và ‘khôn’ hơn con anh vì biết nhiều kỹ thuật, phương pháp học tiếng Anh, nên tiếp tục học tiếng Anh theo tiến trình phản tự nhiên; trong khi con anh, vì không ‘thông minh’ bằng anh, và thiếu kinh nghiệm, nên đã học tiếng Anh theo tiến trình tự nhiên mà không theo một phương pháp cụ thế nào để học vocabulary, grammar, listening, speaking cả.

- Đi vào cụ thể từ vựng Anh.

(Những phân tích sau đây là để thuyết phục ACE đi vào tiến trình tự nhiên - và điều này đòi hỏi phải xóa bỏ cái phản xạ lâu ngày của mình là học theo tiến trình ngược - và công việc xóa bỏ cái phản xạ sai này lại làm cho ta mất thêm thì giờ. ACE đọc để tin vào tiến trình tự nhiên, chứ không phải để nhớ những phân tích ‘tào lao’ này, khiến lại bị trở ngại thêm trong quá trình nâng cao kỹ năng của mình.

- Xóa bỏ kinh nghiệm nghe nguyên âm:

Tiếng Anh là tiếng phụ âm.


Tiếng Anh chủ yếu là ngôn ngữ đa âm: một từ thường có nhiều âm. Lỗ tai chúng ta đã ‘bị điều kiện hóa’ để nghe âm tiếng Việt. Tiếng Việt là loại tiếng đơn âm, vì thế, mỗi tiếng là một âm và âm chủ yếu trong một từ là nguyên âm. Đổi một nguyên âm thì không còn là từ đó nữa: ‘ma, mi, mơ’ không thể hoán chuyển nguyên âm cho nhau, vì ba từ có ba nghĩa hoàn toàn khác nhau. Mặc khác, tiếng Việt không bao giờ có phụ âm cuối từ. Ngay cả những chữ mà khi viết có phụ âm cuối, thì người việt cũng không đọc phụ âm cuối; ví dụ: trong từ ‘hát’, nguyên âm mới là ‘át’, h(ờ)-át, chứ không phải là h(ờ)-á-t(ơ), trong khi đó từ ‘fat’ tiếng Anh được đọc là f(ờ)-a-t(ờ), với phụ âm ‘t’ rõ ràng.

Trong tiếng Việt hầu như không có những từ với hai phụ âm đi kế tiếp (ngoài trừ ch và tr - nhưng thực ra, ch và tr cũng có thể thay bằng 1 phụ âm duy nhất) vì thế, tai của một người Việt Nam = chưa bao giờ làm quen với ngoại ngữ - không thể nhận ra hai phụ âm kế tiếp. Do đó, muốn cho người Việt nghe được một tiếng nước ngoài có nhiều phụ âm kế tiếp, thì phải thêm nguyên âm (ơ) vào giữa các phụ âm; ví dụ: Ai-xơ-len; Mat-xơ-cơ-va.

Với kinh nghiệm (phản xạ) đó, một khi ta nghe tiếng Anh, ta chờ đợi nghe cho đủ các nguyên âm như mình NHÌN thấy trong ký âm (phonetic signs), và không bao giờ nghe được cả. Ví dụ: khi học từ America ta thấy rõ ràng trong ký âm: (xin lỗi vì không thể ghi phonetic signs vào trang này) ‘ơ-me-ri-kơ’, nhưng không bao giờ nghe đủ bốn âm cả, thế là ta cho rằng họ ‘nuốt chữ’. Trong thực tế, họ đọc đủ cả, nhưng trong một từ đa âm (trong khi viết) thì chỉ đọc đúng nguyên âm ở dấu nhấn (stress) - nếu một từ có quá nhiều âm thì thêm một âm có dấu nhấn phụ (mà cũng có thể bỏ qua) - còn những âm khác thì phải đọc hết các PHỤ ÂM, còn nguyên âm thì sao cũng đưọc (mục đích là làm rõ phụ âm). Có thể chúng ta chỉ nghe: _me-r-k, hay cao lắm là _me-rơ-k, và như thế là đủ, vì âm ‘me’ và tất cả các phụ âm đều hiện diện. Bạn sẽ thắc mắc, nghe vậy thì làm sao hiểu? Thế trong tiếng Việt khi nghe ‘Mỹ’ (hết) không có gì trước và sau cả, thì bạn hiểu ngay, tại sao cần phải đủ bốn âm là ơ-mê-ri-kơ bạn mới hiểu đó là ‘Mỹ’? Tóm lại: hãy nghe phụ âm, đừng chú ý đến nguyên âm, trừ âm có stress!

Một ví dụ khác: từ interesting! Tôi từng được hỏi, từ này phải đọc là in-tơ-res-ting hay in-tơ-ris-ting mới đúng? Chẳng cái nào đúng, chẳng cái nào sai cả. Nhưng lối đặt vấn đề sai! Từ này chủ yếu là nói ‘in’ cho thật rõ (stress) rồi sau đó đọc cho đủ các phụ âm là người ta hiểu, vì người bản xứ chỉ nghe các phụ âm chứ không nghe các nguyên âm kia; nghĩa là họ nghe: in-trstng; và để rõ các phụ âm kế tiếp thì họ có thể nói in-tr(i)st(i)ng; in - tr(ơ)st(ơ)ng; in-tr(e)st(ư)ng. Mà các âm (i)(ơ), để làm rõ các phụ âm, thì rất nhỏ và nhanh đến độ không rõ là âm gì nữa. Trái lại, nếu đọc to và rõ in-tris-ting, thì người ta lại không hiểu vì dấu nhấn lại sang 'tris'!
Từ đó, khi ta phát âm tiếng Anh (nói và nghe là hai phần gắn liền nhau - khi nói ta phát âm sai, thì khi nghe ta sẽ nghe sai!) thì điều tối quan trọng là phụ âm, nhất là phụ âm cuối. Lấy lại ví dụ trước: các từ fire, fight, five, file phải được đọc lần lượt là fai- (ơ)r; fai-t(ơ); fai-v(ơ), và fai- (ơ)l, thì người ta mới hiểu, còn đọc 'fai' thôi thì không ai hiểu cả.

Với từ ‘girl’ chẳng hạn, thà rằng bạn đọc gơ-rôl / gơ-rơl (dĩ nhiên chỉ nhấn gơ thôi), sai hẳn với ký âm, thì người ta hiểu ngay, vì có đủ r và l, trong khi đó đọc đúng ký âm là ‘gơ:l’ hay bỏ mất l (gơ) thì họ hoàn toàn không hiểu bạn nói gì; mà có hiểu chăng nữa, thì cũng do context của câu chứ không phải là do bạn đã nói ra từ đó.

- Xóa bỏ kinh nghiệm nghe âm Việt.

Các nguyên âm Việt và Anh không hề giống nhau. Một âm rất rõ trong tiếng Anh sẽ rất nhoè với một lỗ tai người Việt, và một âm rất rõ trong tiếng Việt thì rất nhoè trong lỗ tai người Anh (người bản xứ nói tiếng Anh). Ví dụ: Khi bạn nói: “Her name’s Hương!” Bạn đọc từ Hương thật rõ! Thậm chí la lên thật to và nói thật chậm thì người ấy vẫn không nghe ra. Vì ‘ươ’ đối với họ là âm rất nhoè. Nhưng nói là ‘Hu-ôn-gh(ơ)’ họ nghe rõ ngay; từ đó ta phải hiểu họ khi nói đến cô Huôngh chứ đừng đòi hỏi họ nói tên Hương như người Việt (phải mất vài năm!).

Tương tự như vậy, không có nguyên âm tiếng Anh nào giống như nguyên âm tiếng Việt. Nếu ta đồng hóa để cho dễ mình, là ta sẽ không nghe được họ nói, vì thế giới này không quan tâm gì đến cách nghe của người Việt Nam đối với ngôn ngữ của họ. Ví dụ: âm ‘a’ trong ‘man’ thì không phải là ‘a’ hay ‘ê’ hay ‘a-ê’ hay ‘ê-a’ tiếng Việt, mà là một âm khác hẳn, không hề có trong tiếng Việt. Phải nghe hàng trăm lần, ngàn lần, thậm chí hàng chục ngàn lần mới nghe đúng âm đó, và rất rõ! Ấy là chưa nói âm ‘a’ trong từ này, được phát âm khác nhau, giữa một cư dân England (London), Scotland, Massachusetts (Boston), Missouri, Texas!

Cũng thế, âm ‘o’ trong ‘go’ không phải là ‘ô’ Việt Nam, cũng chẳng phải là ô-u (như cách phiên âm xưa) hay ơ-u (như cách phiên âm hiện nay), lại càng không phài là ‘âu’, mà là một âm khác hẳn tiếng Việt. Phát âm là ‘gô’, ‘gơu’ hay ‘gâu’ là nhoè hẳn, và do đó những từ dễ như ‘go’ cũng là vấn đề đối với chúng ta khi nó được nói trong một câu dài, nếu ta không tập nghe âm ‘ô’ của tiếng Anh đúng như họ nói. Một âm nhoè thì không có vấn đề gì, nhưng khi phải nghe một đoạn dài không ngưng nghỉ thì ta sẽ bị rối ngay.

Đây cũng là do một kinh nghiệm tai hại xuất phát từ việc tiếp thu kiến thức. Trong quá trình học các âm tiếng Anh, nhiều khi giáo viên dùng âm Việt để so sánh cho dễ hiểu, rồi mình cứ xem đó là ‘chân lý’ để không thèm nghĩ đến nữa. Ví dụ, muốn phân biệt âm (i) trong sheep và ship, thì giáo viên nói rằng I trong sheep là ‘I dài’ tương tự như I trong tiếng Bắc: ít; còn I trong ship là I ngắn, tương tự như I trong tiếng Nam: ít - ích. Thế là ta cho rằng mình đã nghe được I dài và I ngắn trong tiếng Anh rồi, nhưng thực chất là chưa bao giờ nghe cả! Lối so sánh ấy đã tạo cho chúng ta có một ý niệm sai lầm; thay vì xem đấy là một chỉ dẫn để mình nghe cho đúng âm, thì mình lại tiếp thu một điều sai! Trong tiếng Anh không có âm nào giống âm I bắc hoặc I nam cả! Bằng chứng: ‘eat’ trong tiếng Anh thì hoàn toàn không phải là ‘ít’ trong tiếng Việt, đọc theo giọng bắc, và ‘it’ trong tiếng Anh hoàn toàn không phải là ‘ít’ trong tiếng Việt, đọc theo giọng nam! Vì thế, phải xóa bỏ những kinh nghiệm loại này, và phải nghe trực tiếp thôi!

- Xóa bỏ kinh nghiệm nghe bằng chữ viết.


Nếu ta hỏi một em bé: cháu nghe bằng gì? Thì nó sẽ trả lời: Nghe bằng tai! Nếu ta bảo: “Cháu phải nghe bằng mắt cơ!” Chắc em bé tưởng ta … trêu cháu! Thế nhưng điều xảy ra cho nhiều người học tiếng nước ngoài là Nghe Bằng Mắt!
Thử nhìn lại xem. Trong giai đoạn đầu tiếp xúc với tiếng Anh, khi ta nghe một người nói: “I want a cup of coffee!”. Tức tốc, chúng ta thấy xuất hiện câu ấy dưới dạng chữ Viết trong trí mình, sau đó mình dịch câu ấy ra tiếng Việt, và ta HIỂU! Ta Nghe bằng MẮT, nếu câu ấy không xuất hiện bằng chữ viết trong đầu ta, ta không Thấy nó, thì ta … Điếc!

Sau này, khi ta có trình độ cao hơn, thì ta hiểu ngay lập tức chứ không cần phải suy nghĩ lâu. Thế nhưng tiến trình cũng chẳng khác nhau bao nhiêu, ta vẫn còn thấy chữ xuất hiện và dịch, cái khác biệt ấy là ta viết và dịch rất nhanh, nhưng từ một âm thanh phát ra cho đến khi ta hiểu thì cũng thông qua ba bước: viết, dịch, hiểu. Khi ta đi đến một trình độ nào đó, thì trong giao tiếp không có vấn đề gì cả, vì các câu rất ngắn, và ba bước đó được 'process' rất nhanh nên ta không bị trở ngại, nhưng khi ta nghe một bài dài, thì sẽ lòi ra ngay, vì sau hai, ba, bốn câu liên tục 'processor' trong đầu ta không còn đủ thì giờ để làm ba công việc đó. Trong lúc nếu một người nói bằng tiếng Việt thì ta nghe và hiểu ngay, không phải viết và dịch (tại vì ngày xưa khi ta học tiếng Việt thì quá trình là nghe thì hiểu ngay, chứ không thông qua viết và dịch, vả lại, nếu muốn dịch, thì dịch ra ngôn ngữ nào?), và người nói có nhanh cách mấy thì cũng không thể nào vượt cái khả năng duy nhất của chúng ta là 'nghe bằng tai'.

Vì thế, một số sinh viên cảm thấy rằng mình tập nghe, và đã nghe được, nhưng nghe một vài câu thì phải bấm ‘stop’ để một thời gian chết - như computer ngưng mọi sự lại một tí để process khi nhận quá nhiều lệnh - rồi sau đó nghe tiếp; nhưng nếu nghe một diễn giả nói liên tục thì sau vài phút sẽ ‘điếc’. Từ đó, người sinh viên nói rằng mình ‘đã tới trần rồi, không thể nào tiến xa hơn nữa! Vì thế giới này không stop cho ta có giờ hiểu kịp’!’(1)

Từ những nhận xét trên, một trong việc phải làm để nâng cao kỹ năng nghe, ấy xóa bỏ kinh nghiệm Nghe bằng Mắt, mà trở lại giai đoạn Nghe bằng Tai, (hầu hết các du học sinh ở nước ngoài, sau khi làm chủ một ngoại ngữ rồi từ trong nước, đều thấy ‘đau đớn và nhiêu khê’ lắm khi buộc phải bỏ thói quen nghe bằng mắt để trở lại với trạng thái tự nhiên là nghe bằng tai! Có người mất cả 6 tháng cho đến 1 năm mới tàm tạm vượt qua).

- Xóa bỏ kinh nghiệm nghe bằng cấu trúc văn phạm.


Khi nghe ai nói, ta viết một câu vào đầu, và sửa cho đúng văn phạm, rồi mới dịch, và sau đó mới hiểu! Ví dụ. Ta nghe ‘iwanago’ thì viết trong đầu là ‘I want to go’, xong rồi mới dịch và hiểu; nếu chưa viết được như thế, thì iwanago là một âm thanh vô nghĩa.

Thế nhưng, nếu ta nghe lần đầu tiên một người nói một câu hằng ngày: igotago, ta không thể nào viết được thành câu được, và vì thế ta không hiểu. Bời vì thực tế, câu này hoàn toàn sai văn phạm. Một câu đúng văn phạm phải là ‘I am going to go’ hoặc chí ít là ‘I have got to go’. Và như thế, đúng ra thì người nói, dù có nói tốc độ, cũng phải nói hoặc: I'm gona go; hoặc I’ve gota go (tiếng Anh không thể bỏ phụ âm), chứ không thể là I gotta go! Thế nhưng trong thực tế cuộc sống người ta nói như thế, và hiểu rõ ràng, bất chấp mọi luật văn phạm. Văn phạm xuất phát từ ngôn ngữ sống, chứ không phải ngôn ngữ sống dựa trên luật văn phạm. Vì thế ta cũng phải biết nghe mà hiểu; còn cứ đem văn phạm ra mà tra thì ta sẽ khựng mãi. (Tôi đang nói về kỹ năng nghe, còn làm sao viết một bài cho người khác đọc thì lại là vấn đề khác!)

Tóm lại, trong phần chia sẻ này, tôi chỉ muốn nhắc với ACE rằng, hãy NGHE ĐIỀU NGƯỜI TA NÓI, CHỨ ĐỪNG NGHE ĐIỂU MÌNH MUỐN NGHE, và muốn được như vậy, thì HÃY NGHE BẰNG TAI, ĐỪNG NGHE BẰNG MẮT!
Hai bài trước đây, tôi nói về việc nghe ‘âm thanh’ của tiếng Anh, có nghĩa là làm sao phân biệt được các âm với nhau đến nỗi, dù không hiểu câu ấy nói gì, cũng có thể lặp lại đúng lời người ta nói ra (câu càng dài thì kỹ năng nghe của mình càng cao). Dĩ nhiên, có những người được ‘lỗ tai âm nhạc’ thiên phú nên phân biệt âm thanh rất nhanh. Ví dụ em Wendy Võ, một nhi đồng gốc Việt tại North Carolina (tên Việt Nam là Võ thị Ngọc Diễm). Năm nay em mới 8 tuổi mà đã nói được 11 thứ tiếng và soạn 45 bản nhạc. Em có khả năng lặp lại một câu nói bằng bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới, mà không cần hiểu nghĩa. Thế nhưng thường thường, người ta phải mất nhiều thời gian để phân biệt các âm trong một ngôn ngữ mới, tuy nhiên TẤT CẢ MỌI NGƯỜI đều có khả năng này, bằng chứng là không một người nào trên trái đất (trừ người điếc) là không thể nghe và nói ngôn ngữ mẹ đẻ của mình.

Nếu thời gian qua, các bạn đã lắng nghe âm thanh tiếng Anh thôi, thì đến nay, hẳn bạn đã nhận thấy rằng bỗng dưng có một số từ hay cụm từ mình nghe rõ ràng hơn xưa, đặc biệt là những con số và những danh từ riêng (của các nhân vật, các địa danh … ), và những từ mình đã quen thuộc. Có những đoạn bạn nghe một thời gian dài 5-15 phút (như trên TV) rồi bỗng thấy mình ‘hiểu’ cơ bản nội dung chương trình đó.
Như thế là các bạn đã nghe tiếng Anh. Nhưng dù muốn dù không, khi nghe một ngôn ngữ mà chỉ nghe âm thanh thôi, thì cũng giống như mình nghe nhạc (không lời), hay nghe tiếng gió, tiếng chim. Nếu chỉ nghe như thế thì không đáng bỏ công, vì ngôn ngữ cốt là để truyền tin (truyền một thông tin). Nếu ta không nắm được thông tin bên dưới âm thanh phát ra bằng tiếng Anh, thì kể như chúng ta không ‘nghe’ được tiếng Anh. Vì thế, điều chúng ta cần học lại trước hết là nghe tiếng Anh (như một âm thanh thuần túy) để tiến đến bước sau cùng (mà bình thường người học ngoại ngữ xem là bước đầu tiên), ấy là ‘nghe’ tiếng Anh, theo nghĩa là ‘hiểu’ một thông tin.

Vì thế, sau hai bài để nói về cách nghe tiếng Anh, hôm nay tôi sẽ đi sâu hơn, ấy là ‘nghe’ tiếng Anh, theo nghĩa là nắm bắt nội dung của thông tin qua một chuỗi âm thanh bằng tiếng Anh.

Nghe tiếng Anh và "nghe" tiếng Anh

1. "Nghe" trong ngữ cảnh.


Tôi từng nhắc đi nhắc lại rằng đừng bao giờ tra từ điển khi mình nghe một diễn từ. Điều chủ yếu là nghe và lặp lại được những âm thanh đã nghe, rồi dần dần hiểu được một từ mới, khi nó xuất hiện trong nhiều nội dung khác nhau (nếu cả năm mình mới nghe từ đó một lần, có nghĩa là từ ấy không thông dụng và, trong giai đoạn này, ta không cần phải bận tâm đến nó!). Ví dụ: bạn nghe nhiều lần (âm thanh) ‘oubou’ mà không hiểu nghĩa, lần lượt trong những câu sau:

- To play the ‘oubou’ you need to have strong arms.
- The ‘oubou’ is considered one of the most difficult instruments to play.
- The ‘oubou’ is very difficult to play, because Karen must force air at very high pressure into the tiny double reed.


Lần đầu tiên, bạn chẳng biết âm ‘oubou’ chỉ cái gì, nhưng vì đi với play nên bạn đoán rằng đó là một cái gì để ‘chơi’. Như thế là đã ‘hiểu’ một cách tổng quát. Lần 2, với từ ‘instrument’ bạn biết rằng đó là cái để ‘chơi’ nhưng không phải là trong thể thao, mà là trong âm nhạc. Lần thứ ba, với cụm từ ‘must force air’ thì ta biết rằng đó là một nhạc cụ thổi hơi (khí nhạc) chứ không phải là nhạc cụ dây hay gõ… Và ta tạm hiểu như thế, mà không cần biết phải viết thế nào, cho đến khi đọc câu sau (chẳng hạn):

The oboe looks very similar to the clarinet, but sounds very different!
Thế là ta biết được rõ ràng đó là một nhạc khí tương tự như clarinet, và từ mà ta nghe là ‘oubou’ thì được viết là oboe (và ta đọc đúng ngay chứ không cần phải tra từ điển!)


Ps: Đây cũng là vấn đề ‘hiểu’ một từ. Chúng ta có cảm giác rằng nếu dịch được tiếng ấy ra là ta hiểu ngay, thế nhưng không có gì sai cho bằng. Nếu bạn học theo quá trình ngược, nghĩa là khởi sự biết từ ấy dưới dạng chữ viết, bạn sẽ tra từ điển và đọc là: kèn ô-boa! Bạn thấy hài lòng vì mình đã hiểu! Nhưng thực ra, nếu bạn không phải là một nhạc sĩ, thì ‘kèn ô-boa’ cũng chẳng thêm gì trong kiến thức bạn. Ngay trong tiếng mẹ đẻ, ta có thể hài lòng với khái niệm mơ hồ về một từ, nhưng khi học ngoại ngữ thì ta có cái cảm giác sai lầm là phải trở lại với từ mẹ đẻ mới gọi là hiểu. Đối với tôi, nightingale là một loại chim có tiếng hót hay và thường hót vào ban đêm, còn có dịch ra là ‘sơn ca’ hay ‘họa mi’ thì cũng bằng thừa, vì tôi chưa bao giờ thấy và biết chim ‘sơn ca’ hay ‘họa mi’. Thậm chí không biết là có phải một loài chim hay hai loài chim khác nhau, vì cả hai từ đều được dịch là nightingale.

2. Nghe trong toàn bộ bối cảnh.


Ta thường nghĩ rằng: ‘một từ thì có một nghĩa nhất định’. Hoàn toàn sai.


- Thử tra từ ‘tiêu cực’ trong từ điển: negative. Như thế, ‘một cán bộ tiêu cực’ phải được dịch là ‘a negative cadre’! Nếu cụm từ tiếng Việt có ý nghĩa rõ ràng thì cụm từ dịch ra tiếng Anh (như trên) là hoàn toàn vô nghĩa! Nói cách khác: khi người Anh nói ‘negative’, thì người Việt hiểu là ‘tiêu cực’; nhưng khi người Việt nói ‘tiêu cực’, thì người Anh không thể hiểu là ‘negative.’

- Từ đó ta không thể nào hiểu đúng nghĩa một từ tiếng Anh nếu không đặt vào trong bối cảnh của nó. Ví dụ: nếu không để ý rằng câu chuyện xảy ra ở Anh hay ở Mỹ, thì khi nghe từ corn ta có thể hiểu sai: Ở Anh là lúa mì, và ở Mỹ là bắp!
Nếu thấy một người mở nắp bình xăng lên mà nói ‘Oh my! No more gas’ thì ta hiểu ngay rằng ‘gas’ chính là ‘xăng’, mặc dù trước đó mình có thể học: petrol hay gasoline mới là xăng, còn gas có nghĩa là khí đốt!

Mà nhiều khi bối cảnh rõ đến nỗi, người ta dùng một từ sai mình cũng hiểu đúng. Bạn cứ thử đến cây xăng, mở bình và nói: đổ cho tôi 30.000 dầu! Tôi cam đoan là người ta không thắc mắc gì cả và sẽ đổ XĂNG chứ không đổ DẦU vào xe bạn; cao lắm là trong 100 lần, thì một lần người ta nhắc lại: đổ xăng phải không? Bạn nói là Dầu người ta vẫn hiểu là Xăng. Và trong tiếng Anh cũng thế! Bạn sẽ hiểu một từ trong toàn bộ bối cảnh của nó.

3. Nghe với tất cả giai điệu của câu.

Trong phần đầu tôi nói rằng khi ‘nghe’ một câu, chủ yếu là làm sao nắm bắt được thông tin của chuỗi âm thanh ấy. Nói cách khác, ngôn ngữ có nhiệm vụ là truyền tin. Nhưng ngoài nhiệm vụ truyền tin thì còn một nhiệm vụ thứ hai, vô cùng quan trọng, ấy là nhiệm vụ truyền cảm (truyền một tình cảm). Một câu nói giao tiếp hằng ngày, luôn chuyển tải một phần của thất tình (= bảy tình cảm con người, chứ không phải là bị tình phụ đâu: hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục). Vì thế, cao độ, tốc độ, cường độ của câu nói, trường độ (độ dài) và dấu nhấn của một từ, có thể là điều mình cần phải ‘nghe’ cùng một lúc với các âm thanh được phát ra, thậm chí nghe âm điệu là chính. Nếu không thì ta hiểu sai, hoặc không hiểu gì cả. Đừng tưởng rằng khi ta nghe được từ ‘hate’ là ta hiểu ngay: ghét!

Vì dụ nghe một cô gái nói với một cậu trai: I hate you! Câu này không phải lúc nào cũng là ‘Em ghét anh'! Nói với một ngữ điệu nào đó thì có thể hiểu là: Tôi căm thù anh; hay Thôi, để tôi yên; hay Anh làm tôi bực mình; hoặc trái lại: Anh làm em cảm động quá; thậm chí: Em yêu anh quá chừng chừng!
Và cách nhấn câu cũng thế. Ví dụ trong câu sau đây:
I didn’t say Paul stole my watch!

Nếu người nói nhấn mạnh các từ theo 7 khác nhau, mỗi cách nhấn một từ ( I - didn’t - say - Paul - stole - my - watch ) thì nghĩa sẽ khác nhau hoàn toàn:

I didn’t say Paul stole my watch! (Somebody else said that!)
I didn’t say Paul stole my watch! (No! I didn't act like that)
I didn’t say Paul stole my watch! (I disclosed by another way, but I didn't SAY) v.v


Khi học tiếng Việt, chúng ta nghe toàn bộ giai điệu, nên hiểu (và nói đúng) cao độ của một từ (nói đúng các dấu); thế nhưng khi một người nước ngoài học tiếng Việt, chúng ta phải khổ công giải thích cho họ lên giọng, xuống giọng, uốn giọng như thế nào để nói các dấu sắc, huyền, nặng, hỏi - ngã (do học nghe bằng tai nên người Nam và người Trung đồng hóa ? và ~, trong khi người Bắc phân biệt chúng rõ ràng). Vì thế, ngược lại, khi nghe tiếng Anh, cần phải nghe toàn bộ âm điệu để nắm bắt những tình cảm bên dưới câu nói.

Nghe với cả giai điệu, mình sẽ hiểu (và sau này sẽ dùng) những câu hay thành ngữ một cách chính xác như người bản ngữ, mà không cần phải dịch ra. Ví dụ: các câu ngắn như: Oh my God! Look at this! Hoặc No way! Hoặc You're joking/kidding! Với giọng điệu khác nhau, những câu nói hằng ngày đó có thể được hiểu là một tiếng khen hay chê, thán phục hay thất vọng, bằng lòng hay bất bình, chấp thuận hay từ chối!

Và từ đó, mình sẽ biết đối xử khi dùng tiếng Anh cho đúng nghĩa, chứ không chỉ đúng văn phạm. Ví dụ, khi tiếp một nhân vật quan trọng đến công ty bạn, bạn chuẩn bị nói một câu mời rất trân trọng và đúng nghi thức (formal): Would you please (to) take a seat? Thế nhưng bạn căng thẳng đến độ nói theo một âm điệu nào đó khiến người kia bực mình với bạn (mà bạn không hề biết), vì ngỡ rằng bạn diễu cợt người ta! Thế là hỏng cả một cuộc đàm phán. Thà rằng bạn nói đơn sơ: Sit down! Với một giọng hòa nhã, thái độ tôn trọng, cử chỉ lịch thiệp và nụ cười nồng hậu, thì không ai lầm bạn! Trái lại, nói câu rất formal trên kia, với thái độ căng thẳng và giọng nói cộc cằn (vì sợ nói sai!), thì tai hại hơn nhiều.

4. Nghe với những gì một từ bao hàm.

Ngôn ngữ dùng để truyền tin, nhưng đồng thời cũng truyền cảm. Vì thế, mỗi danh từ vừa chỉ định một cái gì cụ thể (denotation), vừa kèm theo một tình cảm (connotation). Các từ this gentleman, this man, this guy, this rascal đều có một denotation như nhau là một người nam nào đó, nhưng connotation thì hoàn toàn khác; cũng như đối với một người nữ nào đó ta có thể dùng: a lady, a woman, a girl, a whore. Cùng một từ như communism chẳng hạn. Đối với một đảng viên đảng Cộng Sản hay một cảm tình viên, thì từ ấy gợi lên bao nhiêu điều dịu dàng cao đẹp, còn đối với người chống cộng, thì từ ấy gợi lên bao nhiêu điều xấu xa, độc ác! Trong khi denotation của nó chỉ là một triết thuyết như trăm ngàn thuyết thuyết khác, mà dù thích dù không, người ta cũng phải dùng để chỉ định triết thuyết do Karl Marx đề ra!

Khi học tiếng Anh, muốn nâng cao vốn từ vựng thì ta cố học nhiều từ đồng nghĩa (synonyms). Thế nhưng, không bao giờ có synonyms đích thực cả: chỉ tương đương trong denotation chứ connotation hoàn toàn khác (và cũng vì thế mà không bao giờ có hai từ hoàn toàn có nghĩa giống nhau ở hai ngôn ngữ khác nhau: mother/father không hoàn toàn là cha/mẹ - và mummy/daddy không hoàn toàn là ba/má; vì tình cảm đính kèm với các từ ấy khác hẳn giữa người Việt và người Anh). "Nghe" tiếng Anh, chính là biết nghe những connotations trong các thuật ngữ mình nghe.

Cho đến nay, tôi chỉ đề nghị các bạn nghe tin tức. Nhưng đó là giai đoạn nghe để quen với các âm. Trong giai đoạn ‘nghe’ tiếng Anh này, phải bớt giờ nghe tin tức mà xem phóng sự hoặc các phim truyện. Trên thế giới, các speakers của các chương trình tin tức buộc phải nói với thái độ neutral, nghĩa là không được dùng từ kèm theo tình cảm, và không được xử lý âm điệu để nói lên tình cảm của mình, vì thế họ nói rất dễ nghe, nhưng chỉ nghe tin tức thôi thì ta bỏ sót một phần khá chủ yếu trong tiếng Anh.

5. Nghe bằng trái tim để cảm điều họ cảm.


Và cuối cùng, đối với các bạn muốn đi thật sâu vào tiếng Anh, thì có thể phối hợp tất cả các kỹ năng để hiểu những điều tiềm tàng bên dưới ngôn ngữ giao tiếp; và điều này hướng đến cách nghe văn học. Mọi ngôn ngữ đều gợi lên một cái gì đó vượt lên trên từ ngữ. Vì thế, thi ca là một ngôn ngữ đặc biệt. Người Việt nào, dù thích hay không thích, vẫn cảm được ngôn ngữ của thi ca. Do đó, muốn nâng cao kỹ năng ‘nghe’ tiếng Anh của mình thì cần tập nghe những bài thơ. Cho đến nay, khó tìm những bài thơ audio, nhưng không phải là không có. Tập nghe đọc thơ, dần dần, chúng ta sẽ cảm được cái tinh túy của tiếng Anh, từ đó ta cảm được vì sao cùng một tư tưởng mà diễn đạt cách này thì 'hay' hơn cách kia. Bấy giờ ta mới có quyền nói: tôi đã ‘nghe’ được tiếng Anh.


Ví dụ, khi muốn người ta cảm nhận tiếng gió mùa thu, thì Xuân Diệu đã sử dụng âm ‘r’ trong bài “Đây Mùa Thu Tới”:
Những luồng run rẩy rung rinh lá

Tương tự như vậy Robert L. Stevenson viết trong The Wind
I saw you toss the kites on high
And blow the birds about the sky;
And all around I heard you pass,
Like ladies’ skirts across the grass..

Tác giả đã làm cho ta cảm được làn gió hiu hiu với các âm ‘r’ và ‘s’ nối tiếp và quyện vào nhau trong câu cuối, kèm với hình ảnh độc đáo của váy các mệnh phụ lướt qua trên cỏ (điều mà người Việt Nam hoàn toàn không có kinh nghiệm, vì mọi nét yêu kiều đều gắn liền với tà áo dài).


Kết luận:


Tôi đã bắt đầu gợi ý nghe tiếng Anh để rồi đi đến vấn đề ‘nghe’ tiếng Anh. Tuy nhiên, tôi lặp lại, những gì tôi nói chỉ là lý thuyết, và không có lý thuyết nào có thế làm cho bạn nghe được tiếng Anh. Cách duy nhất ấy là bạn phải tự mình nghe và rút ra những phương pháp thích hợp với xu hướng, kinh nghiệm và sở thích của mình.

Qua loạt bài này, tôi luôn đả phá cách nghe dựa trên viết và dịch. Thế nhưng, những điều tôi cho là trở ngại, nhiều khi lại có ích cho bạn, vì những thứ ấy không cản trở mà còn giúp bạn những cột móc để bám vào. Vâng. Nếu các bạn thấy việc đọc script, hoặc học từ vựng, hoặc viết thành câu và tra từ điển - như vẫn làm từ trước đến nay - giúp cho bạn nghe và hiểu nhanh hơn thì cứ sử dụng phương pháp của mình. Tôi chỉ nhắc lại một điều này:

Tất cả những trợ giúp đó cũng giống như chiếc phao cho người tập bơi. Khi tập bơi, nhiều người cần có một cái phao để bám vào cho dễ nổi, từ đó bạo dạn xuống nước mà tập bơi. Và không ít người bơi giỏi đã khởi sự như thế. Bạn cũng vậy, có thể những cách nghe từ trước đến giờ (nhìn script - học từ - kiểm tra văn phạm) giúp bạn những cột chắc chắn để bám vào mà nghe. Vậy thì xin nhớ rằng: Chiếc phao giúp cho bạn nổi, nhưng không giúp cho bạn biết bơi. Đến một giai đoạn nào đó, chính chiếc phao lại cản trở bạn và không cho bạn bơi thoải mái.

Hãy vứt cái phao sớm chừng nào hay chừng nấy, nếu không nó trở thành một trở ngại cho bạn khi bạn muốn bơi nhanh và xa.

Hãy vứt những chữ viết khi nghe nói, nhanh chừng nào hay chừng ấy, nếu không chúng sẽ cản trở bạn và bạn không bao giờ thực sự 'nghe' được tiếng Anh!